'Đánh thức' giá trị di sản văn hóa, tạo sinh kế, nâng cao đời sống nhân dân ở Ninh Bình
Giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, chăm lo và nâng cao toàn diện đời sống của nhân dân, đồng thời gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội là một trong những quan điểm chỉ đạo trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Quan điểm này đã được tỉnh Ninh Bình cụ thể hóa thành những mục tiêu, giải pháp trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025 - 2030 và ở nhiều chủ trương, quyết sách, góp phần “đánh thức” tiềm năng di sản văn hóa, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo sinh kế, nâng cao đời sống nhân dân.
Văn hóa - sức mạnh nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững
Hiện nay, thế giới đang biến đổi nhanh chóng dưới tác động của toàn cầu hóa, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về sức mạnh mềm quốc gia, trong đó văn hóa là một yếu tố then chốt, có vai trò quyết định đến vị thế và sự phát triển bền vững của mỗi nước. Trước những yêu cầu của quá trình chuyển đổi số, chủ động hội nhập quốc tế và phát triển các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa, con người đã được Đại hội XIV của Đảng đặt ra với tư duy toàn diện, khẳng định phát triển văn hóa, con người là nền tảng.
Nghị quyết Đại hội XIV xác định định hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đồng thời chú trọng đầu tư hạ tầng văn hóa trong các đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng. Những định hướng này tiếp tục nâng tầm tư duy lý luận, coi văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Việt Nam sở hữu một kho tàng di sản lịch sử, văn hóa và thiên nhiên phong phú, đa dạng. Những di sản này không chỉ là niềm tự hào của dân tộc mà còn mang lại giá trị kinh tế lớn thông qua hoạt động phát triển du lịch. Vấn đề đặt ra là phải có tư duy đúng để biến những di sản vốn mang tính “tĩnh” trở thành các sản phẩm “động”, có sức hấp dẫn, thu hút du khách, từ đó vừa tạo ra lợi ích kinh tế, vừa tạo sinh kế, nâng cao đời sống nhân dân các địa phương.

Du khách tham quan Quần thể danh thắng Tràng An (tỉnh Ninh Bình). Ảnh: PHẠM THỦY
Kho tàng di sản phong phú và tiềm năng bứt phá của vùng đất Cố đô
Sau sáp nhập địa giới hành chính, tỉnh Ninh Bình mới không chỉ được mở rộng về không gian mà còn có sự đan xen các nguồn lực văn hóa và lợi thế kinh tế - xã hội. Trong đó, có sự kết hợp giữa vị trí địa lý, cảnh quan, lịch sử, văn hóa và đặc biệt là hệ thống di sản văn hóa mở ra hướng phát triển mới, xanh và bền vững cho tỉnh trong điều kiện hội nhập quốc tế.
Hiện nay, tỉnh Ninh Bình có hơn 5.071 di tích, 750 lễ hội, 10 di tích quốc gia đặc biệt, 1 Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 1 Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và 1 Khu dự trữ sinh quyển thế giới do UNESCO công nhận, và 33 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia với các giá trị nổi bật, mang đậm bản sắc văn hóa riêng có [1].
Trong hệ thống di sản phong phú đó, nổi bật là Quần thể danh thắng Tràng An được Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới năm 2014 [2]. Đây cũng là di sản thế giới hỗn hợp duy nhất của Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á. Danh thắng này có diện tích khoảng 12.252ha, chứa đựng đầy đủ các giá trị về cảnh quan tự nhiên, kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh và những giá trị địa chất, địa mạo của Việt Nam và thế giới. Ở đây có các hang động đa dạng về hình thái và chủng loại, có cảnh quan thiên nhiên kết hợp hài hòa với các công trình kiến trúc đền, chùa… Ngoài ra, Tràng An cũng sở hữu một kho tư liệu về lịch sử người tiền sử, lịch sử kiến tạo và hình thành trái đất.

Khung cảnh hùng vĩ của Quần thể danh thắng Tràng An. Ảnh: PHẠM THỦY
Bên cạnh đó, “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” là một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO ghi danh vào năm 2016, bao gồm các nghi lễ (trong đó tâm điểm là nghi lễ lên đồng), sản vật cúng tiến, trang phục, đạo cụ, múa thiêng, âm nhạc (hát chầu văn) và nhiều sinh hoạt lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là một hình thức thờ cúng người Mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi được hình thành trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Nữ thần. Điển hình là Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng với các vị Thánh Mẫu cai quản miền trời, rừng, nước và các nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với nước.
Từ thế kỷ XVI, tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống con người. “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và TP Hồ Chí Minh... Trong đó, địa bàn tỉnh Nam Định trước đây (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) là một trong những địa phương có các trung tâm thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh tiêu biểu với những địa danh lưu giữ sự tích giáng thế của Mẫu như: Phủ Dầy, Phủ Nấp cùng gần 400 điểm thờ cúng thánh Mẫu [3].
Đặc biệt, Khu dự trữ sinh quyển châu thổ Sông Hồng, thuộc vùng đất ngập nước ven biển của 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình trước đây (nay thuộc tỉnh Hưng Yên và Ninh Bình), nằm ở cửa sông Đáy, sông Hồng và sông Thái Bình với tổng diện tích trên 105.558ha (trong đó có 66.256ha đất liền ven biển và 39.302ha mặt nước biển). Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, khu vực này bao gồm Vườn quốc gia Xuân Thủy thuộc các xã Giao Minh, Giao Hòa; rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưng thuộc xã Rạng Đông; và rừng ngập mặn Kim Sơn - cồn Nổi thuộc các xã Kim Đông, Bình Minh. Đây là vùng bãi bồi đất ngập nước ven biển đặc trưng, độc đáo với 12 kiểu sinh cảnh chủ yếu như bãi bùn, bãi cát ngập triều, trảng cỏ, sậy, rừng ngập mặn, cùng các cồn cát phi lao…
Khu dự trữ hiện đang lưu giữ hệ sinh thái đa dạng với hơn 200 loài chim (gần 160 loài chim di cư, hơn 50 loài chim nước; nhiều loài ghi trong sách đỏ thế giới như: Cò thìa, Mòng Bể mỏ ngắn, Rẽ mỏ thìa, Cò Lạo Ấn Độ, Cò trắng Trung Quốc…), hơn 100 loài thực vật bậc cao và 500 loài động, thực vật thủy sinh có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, vạng, sò, rau câu…[4] Hiện tại, hồ sơ “Ma nhai trên núi Non Nước” ở phường Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) đang được đề nghị UNESCO ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nếu được công nhận, Ninh Bình sẽ trở thành địa phương sở hữu đầy đủ các danh hiệu UNESCO bao gồm: Di sản thế giới (hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên), Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Khu dự trữ sinh quyển thế giới và Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Đòn bẩy kinh tế, hạ tầng và sự chuyển dịch sinh kế của người dân
Các di sản giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và du lịch của tỉnh Ninh Bình, đặc biệt tác động sâu sắc tới sinh kế của cộng đồng dân cư qua việc phát triển du lịch, mang lại nguồn thu nhập cao, ổn định, cùng nhiều lợi ích về phát triển cộng đồng, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và lịch sử của địa phương thông qua sự kết nối, tham gia của người dân.
Du lịch cũng góp phần biến đổi sinh kế của người dân địa phương bằng sự đa dạng hóa các ngành nghề. Trước đây, người dân sinh sống trong khu vực di sản chỉ quen với nghề làm nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công… thì nay hoạt động du lịch đã tạo ra nhiều ngành nghề mới như: Kinh doanh lưu trú, nhà hàng ăn uống, chèo thuyền phục vụ du khách, chụp ảnh, hướng dẫn viên, bán hàng, dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch trang trại, vận chuyển khách. Cư dân trong vùng có nhiều sự lựa chọn công việc để tham gia, phù hợp với khả năng, điều kiện của mình. Sự thay đổi này làm biến đổi cơ cấu lao động theo hướng hợp lý hơn, người lao động có cơ hội tìm việc làm dễ dàng và có thu nhập cao hơn trước. Nhận thức của người dân đã thay đổi theo chiều hướng tích cực khi không còn coi làm ruộng là kế sinh nhai chính, mà đã định hướng, đầu tư cho con em học tập để có thể đáp ứng yêu cầu của những ngành nghề mà du lịch mở ra.
Du lịch phát triển cũng mang lại cho các khu vực di sản một hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là đường giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc.
Với sự đa dạng về di sản cùng sự nỗ lực không ngừng của ngành du lịch, năm 2026 du lịch Ninh Bình tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, khẳng định vị thế là một trong những điểm đến hấp dẫn hàng đầu của cả nước. Theo thống kê của Sở Văn hóa và Thể thao Ninh Bình, trong 7 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đón hơn 18,727 triệu lượt khách du lịch, tăng 23,34% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng thu hoạt động du lịch 7 tháng năm 2026 ước đạt hơn 19.348 tỷ đồng, tăng 21,80% so với cùng kỳ năm trước, đạt 96,74% so với kế hoạch năm [5]. Kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của ngành du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Những con số tăng trưởng ấn tượng ấy không chỉ phản ánh sức hút ngày càng lớn của các điểm đến Ninh Bình mà còn cho thấy hiệu quả của chiến lược phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch theo hướng xanh, bền vững và giàu bản sắc.
Nhận diện các điểm nghẽn và thách thức đặt ra
Trong hành trình bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa gắn với định hướng phát triển du lịch, tỉnh Ninh Bình mới bên cạnh những lợi thế chiến lược sau hợp nhất vẫn đang phải đối mặt với không ít điểm nghẽn và thách thức nội tại.
Điểm nghẽn đầu tiên nằm ở chỗ không gian văn hóa chưa được khai thác theo chiều sâu. Địa phương hiện vẫn thiếu vắng các hoạt động văn hóa mang tính thường xuyên và có sức hút lớn như các chương trình biểu diễn nghệ thuật thực cảnh hay triển lãm di sản quy mô. Các tour du lịch hiện tại phần lớn vẫn rập khuôn quanh những hoạt động truyền thống như đi thuyền, vãn cảnh đền, chùa và đạp xe. Sự đơn điệu này dẫn đến hệ quả là thời gian lưu trú của du khách bị rút ngắn, kéo theo mức chi tiêu bình quân trên mỗi lượt khách vẫn giữ ở mức thấp.
Bên cạnh đó, dù sở hữu dư địa phát triển lớn sau khi sáp nhập, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất phục vụ du lịch của tỉnh mới vẫn chưa đạt được sự liên kết đồng bộ giữa các vùng di sản, hoạt động du lịch tâm linh và du lịch biển. Các dịch vụ bổ sung, vui chơi giải trí và mua sắm cao cấp còn khá phân tán, chưa hình thành được những tổ hợp phức hợp quy mô lớn mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế để giữ chân du khách.
Đáng chú ý, sự phát triển nóng của du lịch cũng đang đặt ra những bài toán về an sinh xã hội và sinh kế của cộng đồng dân cư địa phương. Quá trình mở rộng hạ tầng du lịch khiến diện tích đất ở, đất canh tác nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Trong bối cảnh nguồn lực đất đai dành cho sản xuất còn lại hạn chế, việc sử dụng nguồn tiền đền bù vẫn chưa thể bảo đảm cho người dân một sinh kế mới bền vững và an toàn về lâu dài.
Thêm vào đó, chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch cùng mặt bằng trình độ lao động địa phương nhìn chung còn nhiều hạn chế. Công tác hỗ trợ, tư vấn và định hướng việc làm từ các tổ chức xã hội vẫn chưa thực sự sát với nhu cầu thực tiễn.
Các giải pháp chiến lược hướng tới “đô thị di sản thiên niên kỷ”
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, hướng tới mục tiêu xây dựng tỉnh Ninh Bình trở thành “thành phố trực thuộc Trung ương với đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo” vào năm 2030 [6], tỉnh Ninh Bình luôn xác định việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa, bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế và các xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi số là chủ trương lớn, xuyên suốt nhằm tạo ra động lực phát triển bền vững.
Phát huy vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội và tiềm năng, lợi thế địa phương, đồng thời quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đảng về văn hóa, thời gian qua tỉnh Ninh Bình đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách kết hợp hài hòa giữa bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường với tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Trong đó, tỉnh đặc biệt chú trọng định hướng phát triển du lịch và công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hướng tới mục tiêu xác lập vị thế là trung tâm du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Theo định hướng đó, tỉnh tập trung phát triển con người toàn diện, tạo sinh kế bền vững và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân thông qua bốn nhóm giải pháp chủ yếu.
Thứ nhất, các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tập trung xây dựng phát triển văn hóa, con người, gìn giữ bản sắc, đồng thời đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về di sản văn hóa, đẩy mạnh khai thác tối đa tiềm năng di sản để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, mũi nhọn là kinh tế du lịch. Đối với di sản văn hóa vật thể, triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa theo nguyên tắc khoa học, bảo tồn, bảo đảm giữ gìn giá trị gốc, giúp các công trình tiêu biểu như Khu di tích Cố đô Hoa Lư, quần thể danh thắng Tràng An, Khu di tích đền Trần - chùa Phổ Minh, quần thể di tích Phủ Dầy, chùa Bái Đính, chùa Long Đọi Sơn… ngày càng khang trang, hấp dẫn du khách.
Đối với di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt chú trọng chỉ đạo công tác tổ chức các lễ hội lớn như Lễ hội Hoa Lư, Lễ hội chùa Bái Đính, Lễ hội Khai ấn đền Trần, Lễ phát lương đền Trần Thương, Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn, mùa du lịch Tràng An - Tam Cốc - Bích Động… đảm bảo các lễ hội diễn ra ý nghĩa, an toàn, lành mạnh. Đồng thời, triển khai nhiều chương trình, đề án bảo tồn và phát huy giá trị của di sản như “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ”, hát Xẩm, hát Dậm Quyển Sơn, nghi lễ Chầu văn, hát Chèo, ca trù, hát Trống quân, múa rối nước, mo Mường, các nghề truyền thống sơn mài, làm trống, thêu ren, dệt lụa tơ tằm, chế biến cói, đá mỹ nghệ… gắn với hoạt động truyền dạy cho thế hệ trẻ, tôn vinh, hỗ trợ nghệ nhân và người thực hành di sản.

Khách du lịch quốc thế tham quan Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: PHẠM THỦY
Thứ hai, ngành văn hóa và thể thao, ngành du lịch tỉnh tăng cường phối hợp, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá di sản, coi đây là giải pháp quan trọng để gắn kết văn hóa với phát triển du lịch. Theo đó, tỉnh chú trọng tổ chức thường xuyên các hoạt động văn hóa, nghệ thuật như: Cuộc thi ảnh nghệ thuật, biên soạn sách ảnh, bản đồ và cẩm nang du lịch tâm linh, lễ hội; tổ chức các hội chợ thương mại du lịch, mời các đoàn Famtrip gồm đại diện doanh nghiệp lữ hành và cơ quan báo chí đến khảo sát di tích, danh thắng để xây dựng các tour, tuyến du lịch mới. Đồng thời, tỉnh cũng cần tích cực tham gia các sự kiện xúc tiến du lịch trong và ngoài nước; đẩy mạnh hợp tác với các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và quốc tế để truyền thông sâu rộng về tiềm năng kinh tế, văn hóa, du lịch của địa phương trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Thứ ba, đối với cộng đồng dân cư sống trong khu vực di sản, bên cạnh việc khuyến khích người dân vận dụng kinh nghiệm, tri thức truyền thống vào công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản, tỉnh cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa từ hoạt động bảo tồn và phát triển du lịch bền vững. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp tham gia và thụ hưởng thành quả từ các hoạt động này. Mặt khác, cần chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên, tạo tiền đề phát triển du lịch sinh thái nhằm mang lại thêm việc làm và thu nhập bền vững cho cộng đồng; tập trung khôi phục, phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống; phục dựng các làn điệu dân ca, dân vũ và lễ hội đặc sắc của cư dân trong vùng, góp phần làm phong phú thêm các sản phẩm văn hóa phục vụ du khách.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện và vận dụng linh hoạt mô hình hợp tác công - tư trong quản lý, phát huy giá trị di sản, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển bền vững. Song song với đó, tỉnh cần nâng cao năng lực quản lý và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu Luật Di sản văn hóa cùng các Công ước, Hiến chương quốc tế. Đồng thời, ban hành cơ chế, chính sách đãi ngộ đặc thù nhằm thu hút các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ tâm huyết làm công tác di sản.
Các mục tiêu phát triển bền vững của Ninh Bình luôn đặt con người là trung tâm, quản lý di sản nhằm trao truyền cho các thế hệ tương lai gắn với phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, để di sản thực sự là tài sản của cộng đồng, do cộng đồng bảo vệ và vì cộng đồng. Có thể thấy, di sản văn hóa không chỉ là ký ức của quá khứ mà còn là chìa khóa cho tương lai. Khi được "đánh thức" đúng cách, di sản sẽ trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và củng cố bản sắc văn hóa. Đây là yếu tố then chốt để khẳng định Ninh Bình là "Điểm đến thân thiện, mến khách”, tạo nên sức hút bền vững trong phát triển kinh tế và du lịch, góp phần lan tỏa vẻ đẹp vùng đất Cố đô đến với đông đảo du khách trong nước và quốc tế, đồng thời khẳng định vị thế ngày càng nổi bật của Ninh Bình trên bản đồ du lịch Việt Nam.
Các nguồn tham khảo:
[1] Trường Chính trị Trường Chinh (tỉnh Ninh Bình), “Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng tại Ninh Bình hiện nay”, ngày 3-8-2026.
[2] Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, “Quần thể danh thắng Tràng An: Di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam”, ngày 24-6-2014.
[3] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, “Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”, ngày 2-12-2016.
[4] Tạp chí điện tử Thiên nhiên và Môi trường, “Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng”, ngày 24-6-2022.
[5] Báo Nhân Dân, “Du lịch Ninh Bình nỗ lực về đích sớm”, ngày 18-8-2026.
[6] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 218/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Về việc phê duyệt Quy hoạch tỉnh Ninh Bình thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050



