Đánh thức ký ức quê hương

VHXQ - Từ những tấm bia đá, chuông đồng, sắc phong, mộc bản trong đình, chùa đến các cuốn gia phả, địa bạ… được lưu giữ trong cộng đồng ở xứ Quảng, thế hệ hôm nay được biết thêm về người xưa, về làng xóm và những đổi thay của một vùng đất. Nếu những tư liệu ấy không được nghiên cứu và tìm hiểu, nhiều câu chuyện trong đó sẽ dần bị quên đi theo năm tháng.

Dập văn bia để lưu giữ lại ký ức quê nhà. Ảnh: HỒNG VIỆT

Dập văn bia để lưu giữ lại ký ức quê nhà. Ảnh: HỒNG VIỆT

Đứng trước một ngôi từ đường tộc họ, hội quán, chùa chiền hay đình miếu ở xứ Quảng, những dòng chữ Hán - Nôm trên hoành phi, câu đối, văn bia thường gợi một vẻ trầm mặc, cổ kính. Đó là lớp văn tự từng gắn với đời sống của người xưa, nhưng nay đã không còn được sử dụng phổ biến. Những nét chữ đã ngả màu theo thời gian đôi khi trở thành một phần quen thuộc của không gian di tích mà ít người còn biết hết nội dung và câu chuyện phía sau.

Mỗi dòng chữ đều có thể lưu lại một dấu tích cụ thể về vùng đất và con người. Đó có thể là tên một người, một dòng họ, một sự kiện của làng, năm dựng đình, lập miếu hay lần tu sửa một di tích. Một tấm bia có thể cho biết ai đã góp tiền của xây dựng, ngôi đình được dựng từ bao giờ, thờ vị thần nào. Một dòng ghi chép trong gia phả có thể giúp lần tìm nguồn gốc một dòng họ. Những câu đối, hoành phi nơi gian thờ cũng phần nào cho thấy người xưa coi trọng những giá trị nào trong gia đình, làng xóm và đạo làm người.

Những thông tin ấy dù nhỏ, nhưng góp lại sẽ mở ra một phần lịch sử của mỗi dòng tộc, mỗi làng quê và rộng hơn là của cả vùng đất. Di sản Hán - Nôm ở xứ Quảng vì thế không chỉ nằm trong sách vở, mà còn hiện diện trong những nơi người Quảng đã sống, lập làng, dựng nhà, thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thần, Phật và truyền lại nếp nhà qua nhiều thế hệ. Có điều, những dòng chữ ấy lâu nay vẫn thường được xem như một phần của cảnh vật. Chúng ở đó, trong đình, chùa, nhà thờ tộc, trên những tấm bia đá, bức hoành, đôi câu đối... nhưng không phải lúc nào cũng được đọc và tìm hiểu đúng mức. Đằng sau một dòng chữ cũ, vì thế, có thể còn là cả một câu chuyện về quê hương.

Ở các địa phương xứ Quảng vẫn còn lưu giữ khá nhiều tư liệu Hán - Nôm, nhưng kho tư liệu ấy không tập trung ở một nơi. Chúng nằm trong từng di tích, nhà thờ tộc, ngôi chùa, hội quán và gia đình; có thể là một cuốn gia phả, bản địa bạ, hương ước, khế ước, vài tờ văn bản, sắc phong, hoành phi, câu đối... Sự phân tán ấy gây không ít khó khăn cho việc thống kê, nghiên cứu, nhưng cũng cho thấy một điều đáng quý: di sản vẫn còn gắn với đời sống cộng đồng. Có gia đình giữ gia phả như giữ một phần căn cước của dòng họ, có nơi lưu những văn bản liên quan đến việc lập làng, dựng nhà thờ, ở các di tích, bia đá, chuông đồng, câu đối vẫn nằm trong không gian vốn có của chúng... nhưng không phải tư liệu nào cũng được ghi nhận, đọc, phiên âm và giải nghĩa. Nhiều văn bản cũ chỉ được biết đến bởi một vài người trong gia đình, dòng họ; thậm chí người đang lưu giữ cũng chưa rõ đầy đủ lai lịch của chúng.

Số hóa sắc phong nhằm bảo tồn di sản. Ảnh: HỒNG VIỆT

Số hóa sắc phong nhằm bảo tồn di sản. Ảnh: HỒNG VIỆT

Để di sản Hán - Nôm phát huy giá trị

Việc bảo tồn và phát huy di sản Hán - Nôm là một hành trình cần sự kiên nhẫn: đi từng làng, đến từng di tích, tìm các dòng họ, gặp những người đang giữ sách, tờ giấy, tấm bia cũ... Trước hết không phải để thu gom tất cả về một nơi, mà để biết, ghi nhận và không bỏ sót những gì đang có.

Từ góc độ bảo tồn - bảo tàng, công việc này cần được thực hiện qua nhiều khâu: kiểm kê, sưu tầm, số hóa, phiên âm, dịch nghĩa, nghiên cứu, bảo quản, giáo dục và phát huy giá trị. Mỗi khâu đều cần thiết để một tư liệu không chỉ được giữ lại, mà còn được đọc và hiểu.

Khi một văn bia được dịch nghĩa, người dân đến di tích có thể biết thêm câu chuyện về nơi mình đang đứng. Khi một gia phả được nghiên cứu, con cháu hiểu hơn về nguồn gốc dòng họ và những thế hệ đi trước. Những câu đối, hoành phi được giải nghĩa cũng giúp không gian đình, chùa, nhà thờ tộc trở nên gần gũi hơn với người trẻ. Những tư liệu ấy có thể được đưa vào các cuộc trưng bày ở địa phương, giới thiệu trên sách, báo, Internet, xây dựng cơ sở dữ liệu hoặc sử dụng trong giáo dục lịch sử, văn hóa quê hương. Cách làm có thể khác nhau, nhưng điều quan trọng là không để con chữ chỉ nằm yên trong ống hay trong những chiếc tủ khóa kín.

Đọc một dòng chữ của người xưa, đôi khi ta biết thêm nhiều điều tưởng như đã chìm vào quá khứ: một người từng sống trong làng, một dòng họ từng lập nghiệp, một ngôi đình được dựng nên từ công sức của bao người, hay một phong tục từng gắn bó với cộng đồng. Từ những dòng chữ ấy, ta hiểu thêm cách người xưa nhìn về gia đình, quê hương, đạo lý và cuộc sống. Đó cũng là lý do di sản Hán - Nôm cần được bảo tồn không chỉ như những hiện vật cũ, mà như những tư liệu còn khả năng kể lại câu chuyện của một vùng đất.

Giữ được con chữ là giữ được một phần ký ức. Nhưng để ký ức ấy có ý nghĩa với hôm nay, cần làm cho nó được đọc, được hiểu và được truyền lại cho những người đang sống trên chính vùng đất mà người xưa đã để lại.

PHẠM VĂN THANH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/danh-thuc-ky-uc-que-huong-3354598.html