Đánh thức tiềm năng du lịch từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer
Trong đời sống đồng bào Khmer Nam Bộ, ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là trung tâm văn hóa, giáo dục đạo đức, lưu giữ kiến trúc, nghệ thuật và phong tục truyền thống. Cùng với các lễ hội Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Ok Om Bok, những điệu múa Rom vong, sân khấu Dù kê, Rô băm và âm nhạc Ngũ âm tạo nên sắc thái riêng, góp phần làm phong phú sản phẩm du lịch vùng Tây Nam Bộ.

Điệu múa Apsara do các thiếu nữ Đội văn hóa-văn nghệ Khmer chùa Xiêm Cán (phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau) biểu diễn phục vụ du khách. Ảnh: Mỹ Xuyên
Di sản mở lối du lịch văn hóa
Những năm gần đây, công tác bảo tồn di sản Khmer đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều ngôi chùa được trùng tu, các thiết chế văn hóa được đầu tư; lễ hội truyền thống tiếp tục được duy trì, nghệ thuật dân gian được kiểm kê, phục dựng và truyền dạy. Các câu lạc bộ văn nghệ góp phần nuôi dưỡng lực lượng kế cận, đưa di sản đến gần hơn với công chúng.
Theo Tiến sĩ Ngô Sô Phe, Hiệu trưởng Trường Ngôn ngữ, Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (Đại học Trà Vinh), việc duy trì lễ hội, phục dựng nghệ thuật truyền thống và đào tạo thế hệ kế cận có ý nghĩa quan trọng đối với bảo tồn văn hóa Khmer. Đây cũng là nền tảng để các giá trị di sản tiếp tục lan tỏa trong đời sống đương đại.
Bên cạnh kiến trúc chùa chiền, nghề thủ công truyền thống như chế tác mũ mão, mặt nạ, điêu khắc gỗ, đan lát cũng góp phần tạo sức hút cho du lịch. Khi được kết nối với hoạt động tham quan, trải nghiệm và biểu diễn nghệ thuật, những giá trị này có thể hình thành sản phẩm du lịch đặc trưng, giúp du khách hiểu sâu hơn về đời sống phum sóc.
Tuy nhiên, di sản chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi việc khai thác phù hợp với đặc trưng từng địa phương và nguyện vọng của cộng đồng. Đặc biệt, đối với không gian chùa Khmer, phát triển du lịch phải đi đôi với tôn trọng tín ngưỡng, bảo đảm sự trang nghiêm và đặt nhiệm vụ bảo tồn lên hàng đầu.
Khi cửa thiền đứng trước làn sóng hội nhập
Giữa nhịp sống hội nhập, các ngôi chùa Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long đang lựa chọn những cách khác nhau để gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa. Có nơi chủ động mở rộng không gian đón khách, giới thiệu kiến trúc và nghệ thuật truyền thống; có nơi ưu tiên nếp tu hành, giữ sự tĩnh lặng vốn có. Dù cách tiếp cận khác nhau, điểm chung vẫn là bảo vệ di sản và duy trì vai trò của ngôi chùa trong đời sống cộng đồng.
Chùa Som Rông ở phường Sóc Trăng là một điểm nhấn văn hóa Khmer tại thành phố Cần Thơ. Nổi bật trong quần thể kiến trúc là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn dài khoảng 72m, cao 29m, tạo dấu ấn riêng cho điểm đến.
Theo Thượng tọa Lý Đức, Trụ trì chùa Som Rông, quá trình xây dựng, trùng tu các hạng mục có sự chung tay của chính quyền, sư sãi và Phật tử, thể hiện tinh thần Nhà nước và nhân dân cùng làm. Sự đồng thuận của cộng đồng là điều kiện quan trọng để bảo tồn, phát huy giá trị di sản. “Lượng khách hành hương và tham quan cũng tạo cơ hội lan tỏa những giá trị tốt đẹp của Phật giáo, giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" và kết nối các hoạt động an sinh xã hội. Nguồn tịnh tài cùng sự đóng góp của Phật tử được sử dụng cho nhiều hoạt động thiện nguyện như xây nhà tình thương, trao học bổng, chăm lo người nghèo” - Thượng tọa Lý Đức chia sẻ.
Thực tế cho thấy, khi được tổ chức phù hợp, du lịch tâm linh không chỉ giúp quảng bá kiến trúc, nghệ thuật Khmer mà còn tạo cầu nối giữa bảo tồn văn hóa, phụng sự cộng đồng và phát triển địa phương.
Trong khi đó, chùa Dơi ở phường Phú Lợi, thành phố Cần Thơ, tạo sức hút bằng vẻ cổ kính, không gian xanh và hệ sinh thái tự nhiên. Dưới những tán cây lâu năm, ngôi chùa là điểm đến quen thuộc của du khách muốn tìm hiểu kiến trúc Khmer và cảnh quan đặc trưng gắn với đàn dơi từng cư trú đông đúc trong khuôn viên.
Thượng tọa Lâm Tú Linh, Phó Trụ trì chùa Dơi cho biết, nhà chùa không đặt trọng tâm vào phát triển du lịch mà ưu tiên việc tu tập, giữ gìn nếp sinh hoạt tôn giáo và tổ chức các lễ hội truyền thống. Du khách được đón tiếp với tinh thần hoan hỷ, nhưng hoạt động tham quan không phải mục tiêu chi phối đời sống tu hành.
Nhà chùa vẫn có những cách giới thiệu văn hóa phù hợp, trong đó có việc bố trí không gian tìm hiểu âm nhạc Ngũ âm. Sức hấp dẫn của chùa Dơi không nằm ở quy mô công trình hay hoạt động trình diễn dày đặc, mà ở sự hài hòa giữa kiến trúc, thiên nhiên và đời sống tín ngưỡng.
Bắt tay giữ hồn di sản
Tại chùa Xiêm Cán, phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau, kiến trúc Khmer mang dấu ấn Angkor, những hoa văn tinh xảo và bích họa tái hiện cuộc đời Đức Phật tạo nên sức hấp dẫn riêng. Được công nhận là điểm văn hóa du lịch tiêu biểu của Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2020, ngôi chùa là một trong những địa chỉ góp phần định hình sản phẩm du lịch văn hóa của địa phương.
Không chỉ tham quan kiến trúc, du khách còn có thể tìm hiểu đời sống nông thôn và hoạt động sản xuất của cộng đồng Kinh, Hoa, Khmer sinh sống đan xen. Đây là lợi thế để kết nối di sản Phật giáo với du lịch cộng đồng, mở rộng trải nghiệm từ không gian chùa đến đời sống phum sóc.
Thượng tọa Dương Quân, Trụ trì chùa Xiêm Cán cho biết, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và sự đóng góp của Phật tử, ngôi chùa ngày càng phát huy vai trò là trung tâm văn hóa cộng đồng. Các hoạt động biểu diễn Rom vong, múa Apsara góp phần quảng bá văn hóa Khmer, đồng thời tạo thêm trải nghiệm cho du khách.
Nhà chùa đang phối hợp xây dựng mô hình du lịch cộng đồng gắn với văn hóa Khmer. Theo Thượng tọa Dương Quân, cần tiếp tục hỗ trợ người dân phát triển dịch vụ lưu trú, ẩm thực, quà lưu niệm và trải nghiệm văn hóa, để du khách có điều kiện cảm nhận sâu hơn phong tục, tập quán và nhịp sống phum sóc.
Ông Lý Vĩ Triều Dương, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cà Mau cho biết, hệ thống chùa Khmer của địa phương có nhiều công trình cổ mang giá trị kiến trúc, tín ngưỡng và nghệ thuật. Trong đó, chùa Xiêm Cán là điểm nhấn tiêu biểu, có khả năng kết nối với các di tích và không gian văn hóa khác. “Địa phương đã triển khai các hạng mục hỗ trợ trình diễn, trang phục, nhạc cụ Ngũ âm, đồng thời quan tâm đào tạo kỹ năng đón tiếp, hướng dẫn và phục vụ khách du lịch. Đồng thời, khai thác văn hóa Khmer gắn với du lịch không chỉ tạo thêm nguồn thu mà còn góp phần duy trì các giá trị truyền thống” - ông Triều Dương nói.
Phát triển du lịch từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer vì thế không chỉ là câu chuyện thu hút khách hay gia tăng doanh thu. Đó còn là hành trình gìn giữ ký ức cộng đồng, nuôi dưỡng bản sắc và tạo sinh kế trên nền tảng văn hóa. Khi được khai thác bằng sự tôn trọng và trách nhiệm, mỗi ngôi chùa có thể chọn một hướng đi riêng, nhưng cùng hướng đến mục tiêu chung để di sản sống trong đời sống hôm nay, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân mà vẫn vẹn nguyên hồn cốt qua các thế hệ.
