Đánh thức tiềm năng từ tầm nhìn chiến lược của Đảng (bài 3)

Bài 3: Nghị quyết “bén rễ”

Bài 2: Quyết sách đột phá

ĐBP - Giá trị của một nghị quyết không đo bằng mục tiêu đặt ra mà bằng sức sống trong thực tiễn. Với Nghị quyết 11, tư duy đổi mới của Đảng bộ tỉnh đã nhanh chóng chuyển hóa thành sự đồng thuận của nhân dân, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và những vùng nguyên liệu đang dần hình thành. Khi chủ trương hợp lòng dân, nghị quyết không chỉ đi vào cuộc sống mà còn “bén rễ”, trở thành động lực cho một hành trình phát triển lâu dài.

Cán bộ Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Mường Ảng chăm sóc cây giống cà phê trước khi hỗ trợ cho người dân trên địa bàn.

Cán bộ Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Mường Ảng chăm sóc cây giống cà phê trước khi hỗ trợ cho người dân trên địa bàn.

Khi ý Đảng gặp lòng dân

Trong quá trình phát triển, không ít chủ trương về nông nghiệp từng gặp khó khăn vì thiếu sự đồng thuận của người dân. Bởi vậy, ngay khi ban hành Nghị quyết 11, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định, để nghị quyết đi vào cuộc sống, điều quan trọng phải tạo được niềm tin để người dân thấy rõ lợi ích, tự nguyện tham gia và trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi tư duy sản xuất và cơ cấu cây trồng.

Dấu mốc mở đầu cho quá trình đó là lễ phát động ra quân trồng cà phê, mắc ca và thử nghiệm mô hình phát triển kinh tế không gian tầm thấp tại xã Mường Ảng ngày 3/4/2026. Hình ảnh Bí thư Tỉnh ủy Trần Tiến Dũng, lãnh đạo tỉnh cùng cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên thanh niên và người dân trực tiếp đào những hố trồng đầu tiên mang nhiều ý nghĩa hơn một hoạt động phát động phong trào. Đó là thông điệp về sự đồng hành của cấp ủy, chính quyền với nhân dân; là minh chứng cho phương châm nói đi đôi với làm, đưa nghị quyết từ phòng họp ra đồng ruộng, từ văn bản đến phần việc cụ thể.

Khí thế ấy nhanh chóng lan tỏa đến các địa phương. Các cấp ủy, chính quyền xác định phát triển cà phê, mắc ca là nhiệm vụ trọng tâm, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc. Nhiều phong trào thi đua “Chiến sĩ đào hố giỏi - Hộ gia đình đào hố giỏi - Xã hoàn thành sớm, đảm bảo chất lượng”; “Hộ gia đình chăm cây giỏi, có vườn cây đẹp - Xã có diện tích lớn, chất lượng cao” đã ra đời. Các địa phương thành lập tổ công tác, phân công cán bộ, đảng viên phụ trách từng bản, từng nhóm hộ; tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang và đoàn viên thanh niên tham gia hỗ trợ đào hố, vận chuyển cây giống, hướng dẫn kỹ thuật.

Tại xã Chiềng Sinh, ngay sau khi được giao chỉ tiêu phát triển 718ha cà phê và 400ha mắc ca năm 2026, cấp ủy, chính quyền xã xây dựng kế hoạch chi tiết, phân công cán bộ phụ trách từng bản, từng nhóm hộ. Cán bộ đã trực tiếp xuống cơ sở tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật, giải đáp những băn khoăn, vướng mắc về giống cây, vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế và đầu ra sản phẩm. Mỗi khó khăn phát sinh đều được kịp thời tháo gỡ ngay từ cơ sở, giúp người dân yên tâm chuyển đổi sản xuất.

Ông Đỗ Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Chiềng Sinh cho biết, thuận lợi lớn nhất là người dân đã tận mắt chứng kiến hiệu quả của những diện tích cà phê và mắc ca đang cho thu hoạch tại nhiều địa phương trong tỉnh. Khi cán bộ cùng xuống bản, cùng làm với dân và cùng tháo gỡ khó khăn, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn được rút ngắn. Từ tâm lý e ngại ban đầu, người dân chuyển sang chủ động đăng ký tham gia phát triển vùng nguyên liệu. Đến nay, xã hoàn thành trồng cà phê và mắc ca theo kế hoạch năm 2026.

Tinh thần ấy tiếp tục được khẳng định tại xã Sáng Nhè. Ban đầu, địa phương được giao chỉ tiêu phát triển khoảng 70ha cà phê xen mắc ca. Tuy nhiên, sau nhiều đợt tuyên truyền, đối thoại và tổ chức cho người dân tham quan các mô hình hiệu quả, diện tích người dân tự nguyện đăng ký đã tăng lên khoảng 354ha (tính đến ngày 3/7), gấp hơn năm lần kế hoạch. Theo ông Phạm Ngọc Điện, Chủ tịch UBND xã Sáng Nhè, kết quả này không đến từ mệnh lệnh mà đến từ niềm tin của người dân khi nhìn thấy nhiều mô hình sản xuất hiệu quả dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ những cách làm sáng tạo ở cơ sở, phong trào phát triển vùng nguyên liệu nhanh chóng lan tỏa trên phạm vi toàn tỉnh. Chỉ sau hơn ba tháng triển khai Kế hoạch số 1850/KH-UBND, đến ngày 3/7/2026, toàn tỉnh đã đào trên 40,4 triệu hố trồng với sự tham gia của gần 50.000 cán bộ, chiến sĩ và người dân; gần 26.000 lượt người trực tiếp tham gia trồng hơn 23 triệu cây cà phê, mắc ca. Đến nay, diện tích cà phê toàn tỉnh ước đạt 10.859ha, diện tích mắc ca đạt 13.860ha. Có thể khẳng định, Nghị quyết 11 đã tạo nên sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân, đưa chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Niềm tin son sắt vào Đảng

Thực hiện Nghị quyết 11, điều dễ nhận thấy không chỉ là những vùng cà phê, mắc ca ngày càng mở rộng mà còn là sự thay đổi trong nhận thức của người dân. Từ tâm lý băn khoăn, nhiều hộ đã mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, đầu tư sản xuất và coi cà phê, mắc ca là sinh kế lâu dài. Niềm tin ấy không hình thành từ việc tuyên truyền mà được bồi đắp bằng chính những mô hình thành công ngay trên quê hương mình. Khi người dân tận mắt chứng kiến những mô hình hiệu quả, nghị quyết không còn là những mục tiêu trên giấy mà trở thành động lực để họ thay đổi.

Gia đình anh Lầu Chồng Lử, bản Na Luông, xã Mường Ảng là minh chứng rõ nét. Gắn bó với cây cà phê từ năm 1998, anh từng trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khi giá cả bấp bênh, kỹ thuật canh tác còn hạn chế. Những năm gần đây, nhờ áp dụng quy trình sản xuất bài bản, chăm sóc theo hướng nâng cao chất lượng và từng bước liên kết với doanh nghiệp, 3ha cà phê của gia đình anh Lử đạt sản lượng hơn 40 tấn quả tươi trong vụ vừa qua, doanh thu vượt 1 tỷ đồng.

Theo anh Lử, giá trị lớn nhất mà cây cà phê mang lại không chỉ là thu nhập mà còn là sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người dân. Trước đây, nhiều hộ còn e ngại, nhưng khi chứng kiến hiệu quả kinh tế từ những vườn cà phê được chăm sóc đúng kỹ thuật, họ dần nhận ra rằng muốn làm giàu phải sản xuất theo hướng hàng hóa, chú trọng chất lượng thay vì chỉ chạy theo sản lượng. Chính sự thay đổi trong nhận thức ấy đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ ở vùng cà phê Mường Ảng cũng như nhiều địa phương khác.

Ngoài cà phê, cây mắc ca cũng từng bước khẳng định vị thế trên vùng đất Điện Biên. Từ diện tích trồng khảo nghiệm ban đầu, đến nay nhiều vườn cây đã bước vào thời kỳ kinh doanh, mang lại nguồn thu ổn định và mở ra triển vọng phát triển một ngành hàng mới có giá trị kinh tế cao.

Gia đình anh Lò Văn Lả, bản Chá, xã Tuần Giáo là một điển hình. Hơn mười năm trước, khi quyết định trồng mắc ca, anh từng đối mặt với không ít hoài nghi bởi đây là loại cây còn khá mới. Kiên trì chăm sóc và áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, đến năm 2025, hơn 1ha mắc ca của gia đình đã cho thu hoạch khoảng 1,5 - 2 tấn quả, mang lại doanh thu hàng trăm triệu đồng. Thành quả ấy không chỉ cải thiện thu nhập cho gia đình mà còn tạo thêm niềm tin để nhiều hộ dân trong vùng mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

Từ những hộ tiên phong, phong trào phát triển mắc ca nhanh chóng lan rộng ra các xã khác. Theo ông Quàng Văn Cương, Chủ tịch UBND xã Tuần Giáo, giai đoạn 2023 - 2025, địa phương đã triển khai 30 dự án liên kết phát triển mắc ca với diện tích gần 900ha, thu hút hơn 2.200 hộ dân tham gia. Đến nay, toàn xã có trên 2.396ha mắc ca, trong đó khoảng 364ha đã cho thu hoạch. Những kết quả bước đầu cho thấy mắc ca đang dần trở thành một trong những cây trồng chủ lực, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở địa phương.

Từ niềm tin của từng hộ dân đã hình thành sức mạnh của cả phong trào. Mục tiêu phát triển 12.000ha vùng nguyên liệu mới theo Kế hoạch số 1850/KH-UBND vì thế không chỉ hoàn thành mà còn vượt xa kỳ vọng. Tính đến đầu tháng 7/2026, tổng diện tích đăng ký trồng mới cà phê và mắc ca đạt 21.294,84ha, gần gấp đôi kế hoạch đề ra; trong đó diện tích đăng ký trồng cà phê đạt 13.313ha và mắc ca đạt 7.982,22ha. Những con số ấy không chỉ phản ánh kết quả thực hiện mà còn là minh chứng sự đồng thuận của người dân đối với chủ trương của Đảng.

Bài, ảnh: Quang Long - Ngọc Huyền

Bài 4:Kiến tạo nền nông nghiệp tương lai

Nguồn Điện Biên Phủ: https://baodienbienphu.vn/tin-bai/chinh-tri/danh-thuc-tiem-nang-tu-tam-nhin-chien-luoc-cua-dang-bai-3