Khu công nghiệp thông minh thế hệ mới
Việt Nam hiện có 478 khu công nghiệp được thành lập, trong đó 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định với tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt khoảng 79%, thu hút lũy kế hơn 529 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Tổ hợp KCN công nghệ cao Deep C, Hải Phòng. (Ảnh: ÁNH HỒNG)
Trong bối cảnh lợi thế về đất đai và nhân công giá rẻ dần suy giảm, các khu công nghiệp tại Việt Nam phải chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình truyền thống sang khu công nghiệp thế hệ mới. Trong đó, việc lấy công nghệ số, phát triển xanh và quản trị thông minh làm nền tảng cốt lõi đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam hiện có 478 khu công nghiệp được thành lập, trong đó 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định với tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt khoảng 79%, thu hút lũy kế hơn 529 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Tuy nhiên, mô hình khu công nghiệp truyền thống đang đứng trước ngưỡng cửa chuyển đổi mang tính bắt buộc khi lợi thế thu hút đầu tư đã thay đổi rõ rệt. Dù các yếu tố như vị trí địa lý, quỹ đất và nguồn nhân công vẫn giữ vai trò nhất định, các nhà đầu tư toàn cầu hiện nay quan tâm nhiều hơn đến tiêu chuẩn ESG, năng lực quản trị dữ liệu, kiểm soát phát thải và trình độ vận hành thông minh. Đặc biệt, trước các rào cản kỹ thuật ngày càng nghiêm ngặt như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu hay Cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, mỗi khu công nghiệp buộc phải chuyển mình thành nền tảng hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất xanh hơn, sạch hơn và hiệu quả hơn.
Việt Nam hiện có 478 khu công nghiệp được thành lập, trong đó 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định với tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt khoảng 79%, thu hút lũy kế hơn 529 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Thực tiễn phát triển tại Hải Phòng là minh chứng rõ nét cho yêu cầu chuyển đổi mô hình khu công nghiệp trong giai đoạn mới. Từ một trung tâm sản xuất dựa vào lợi thế vị trí và cảng biển, thành phố đang chủ động hướng tới xây dựng hệ sinh thái công nghiệp tích hợp hài hòa giữa sản xuất, logistics, đô thị dịch vụ và công nghệ số. Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, thành phố đã thu hút khoảng 3,098 tỷ USD vốn FDI, nâng tổng số dự án FDI còn hiệu lực lên 1.868 dự án với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 54 tỷ USD.
Theo bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, phát triển khu công nghiệp trong giai đoạn mới không đơn thuần là mở rộng quỹ đất, mà cần đồng bộ hóa hạ tầng giao thông, năng lượng, cấp thoát nước, logistics cùng nền tảng số ngay từ khâu quy hoạch và chuẩn bị đầu tư. Đây chính là tiền đề quan trọng để chuyển đổi từ mô hình quản lý đơn lẻ sang quản trị một hệ sinh thái công nghiệp thống nhất.
Đi đôi với việc hoàn thiện hạ tầng vật lý, Hải Phòng là địa phương tiên phong trong số hóa công tác quản trị khu công nghiệp. Từ năm 2021, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã phối hợp cùng Tập đoàn VNPT triển khai hệ thống quản trị, điều hành điện tử eHEZA. Hệ thống này giúp tạo nền tảng kết nối trực tiếp giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp, số hóa toàn bộ dữ liệu về đầu tư, xây dựng, môi trường, lao động, đồng thời cung cấp công cụ điều hành trực quan thông qua bảng điều khiển dữ liệu và bản đồ số. Dữ liệu từ hệ thống cũng được định hướng kết nối với Trung tâm Điều hành thông minh (IOC) của thành phố, phục vụ hiệu quả cho công tác theo dõi và ra quyết định chỉ đạo.
Ông Hán Anh Vũ, Giám đốc công nghệ VNIZ, cho rằng dữ liệu chính là “nền móng mềm” của khu công nghiệp thế hệ mới. Theo ông Vũ, điểm khác biệt cốt lõi của một khu công nghiệp thông minh không nằm ở số lượng thiết bị công nghệ lắp đặt, mà ở khả năng biến dữ liệu thành công cụ điều hành, chuyển phương thức quản lý từ dựa trên kinh nghiệm sang dựa trên các chỉ số đo lường theo thời gian thực.

Dây chuyền sản xuất ô tô tự động tại Nhà máy Vinfast (Khu kinh tế Đình Vũ-Cát Hải). (Ảnh: ÁNH HỒNG)
Việc hình thành nền dữ liệu dùng chung sẽ giúp kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể trong hệ sinh thái công nghiệp, tháo gỡ triệt để tình trạng báo cáo trùng lặp, đồng thời nâng cao năng lực giám sát và dự báo. Giám đốc điều hành IoTeamVN Nguyễn Hoàng Minh cho rằng dữ liệu năng lượng giúp doanh nghiệp theo dõi lượng tiêu thụ điện theo thời gian thực và kịp thời phát hiện các điểm lãng phí. Triển khai thực tế tại một số doanh nghiệp đã ghi nhận mức giảm từ 3%- 40% điện năng tiêu thụ, vừa tiết kiệm chi phí vận hành, vừa cắt giảm đáng kể phát thải carbon.
Việc hình thành nền dữ liệu dùng chung sẽ giúp kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể trong hệ sinh thái công nghiệp, tháo gỡ triệt để tình trạng báo cáo trùng lặp, đồng thời nâng cao năng lực giám sát và dự báo.
Tuy nhiên, quá trình số hóa khu công nghiệp cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về công tác bảo đảm an toàn thông tin. Khi dữ liệu vận hành, chuỗi cung ứng và hệ thống điều khiển sản xuất cùng đưa lên môi trường số, chỉ một sự cố an ninh mạng cũng có thể gây gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi cung ứng. Vì vậy, xây dựng khu công nghiệp thông minh bắt buộc phải song hành với hạ tầng an toàn thông tin và an ninh mạng. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý về kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, tái sử dụng tài nguyên cùng nền tảng dữ liệu dùng chung chính là chìa khóa thúc đẩy quá trình chuyển đổi bền vững.
Chuyển đổi sang mô hình khu công nghiệp thế hệ mới đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển công nghiệp, lấy dữ liệu, công nghệ và quản trị thông minh làm nền tảng sẽ là động lực chiến lược giúp các khu công nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao và hội nhập sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/khu-cong-nghiep-thong-minh-the-he-moi-post980874.html












