Đào tạo đại học khối sức khỏe: Cần linh hoạt quy định số lượng mã ngành

Quy định hiện hành tại Việt Nam yêu cầu mỗi trường đại học phải có tối thiểu 5 mã ngành đào tạo trình độ đại học. Quy định này nhằm đảm bảo tính đa dạng ngành nghề, tăng năng lực đào tạo và đáp ứng nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, khi áp dụng cho khối ngành sức khỏe – đặc biệt là các trường chuyên ngành đặc thù như Nha khoa – quy định này bộc lộ nhiều bất cập.

Trong Nghị định 99/2019/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học sửa đổi, theo điểm a, điều 4, khoản 4: ‘a) Điều kiện thành lập: Có ít nhất 05 ngành thuộc cùng một lĩnh vực đào tạo từ trình độ đại học trở lên, trong đó có ít nhất 03 ngành đào tạo trình độ thạc sĩ, ít nhất 01 ngành đào tạo đến trình độ tiến sĩ; có quy mô đào tạo chính quy từ 2.000 người trở lên; có quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường thuộc cơ sở giáo dục đại học.

Trường hợp thành lập trường chỉ để đào tạo các chương trình theo định hướng ứng dụng thì không cần điều kiện đào tạo đến trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Trường hợp thành lập trường có quy mô đào tạo chính quy nhỏ hơn 2.000 hoặc có số ngành thuộc cùng một lĩnh vực đào tạo trình độ đại học, trình độ thạc sĩ ít hơn quy định này thì phải có sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, căn cứ vào tính đặc thù của lĩnh vực hoặc trình độ đào tạo;’

Gs.Ts Võ Trương Như Ngọc (thứ hai trái sang) đang điều trị bệnh nhân, bên cạnh là các sinh viên

Gs.Ts Võ Trương Như Ngọc (thứ hai trái sang) đang điều trị bệnh nhân, bên cạnh là các sinh viên

Như vậy một trong những điều kiện để thành lập một trường đại học là phải có tối thiểu 5 ngành đào tạo trình độ đại học. Mục tiêu ban đầu của quy định này là khuyến khích các trường mở rộng lĩnh vực, tăng sự đa dạng, phục vụ nhiều nhu cầu nhân lực khác nhau.

Tuy nhiên, đối với khối ngành sức khỏe, đặc thù đào tạo khác biệt hoàn toàn, đòi hỏi: Chuyên môn sâu, lộ trình dài (5-6 năm). Yêu cầu cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giảng viên và bệnh viện/trạm thực hành đặc thù. Chỉ cần 1-2 ngành cốt lõi nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội trong chăm sóc sức khỏe.

Thực tế, nhiều đơn vị đào tạo trực thuộc các cơ sở giáo dục chuyên ngành sức khỏe ở Việt Nam gặp khó khăn nếu muốn nâng cấp lên thành trường: hoặc phải mở thêm ngành không phải thế mạnh để “đủ số lượng”, hoặc không thể đạt chuẩn để nâng cấp/hợp nhất mô hình, gây lãng phí nguồn lực và cản trở hội nhập quốc tế.

Nhiều trường nha khoa quốc tế chỉ có 1-2 mã ngành đại học

Nghiên cứu từ các trường nha khoa uy tín cho thấy, số lượng mã ngành đại học không phải thước đo chất lượng đào tạo. Một số ví dụ: Trường đại học Nha khoa Harvard trực thuộc Đại học Harvard (Mỹ) chỉ có một chương trình đào tạo đại học chuyên sâu là bác sĩ nha khoa, các chương trình sau đại học gồm nhiều chuyên khoa như chỉnh nha, nha chu, nha khoa trẻ em, phẫu thuật miệng - hàm mặt, nha khoa công cộng…

Trường Đại học Nha khoa Sydney, trực thuộc Đại học Sydney (Úc) chỉ có hai mã ngành đào tạo là bác sĩ nha khoa và cử nhân trị liệu sức khỏe răng miệng (oral health therapist), sau đại học có hơn 10 chuyên ngành sâu. Trường Đại học Nha khoa Yonsei trực thuộc đại học Yonsei (Hàn Quốc) chỉ đào tạo 1 ngành nha khoa bậc đại học, nhưng bậc sau đại học có nhiều hướng chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu nhân lực trình độ cao.

Tương tự như vậy, Trường Đại học Nha Khoa Tokyo trực thuộc Đại học Y và nha khoa Tokyo (Nhật bản) cũng chỉ có một mã ngành là bác sĩ nha khoa, nhưng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nhiều lĩnh vực: phục hình, nha chu, implant, chỉnh nha, vật liệu nha khoa, nha khoa cộng đồng.

Điểm chung ở các trường này: Tập trung chuyên sâu ở bậc đại học chỉ có một đến hai mã ngành; Mở rộng chiều sâu ở bậc sau đại học, linh hoạt theo nhu cầu thị trường lao động và tiến bộ khoa học; Được xếp hạng cao toàn cầu dù số mã ngành đại học ít.

Bất cập khi áp dụng cứng quy định tối thiểu có 5 mã ngành

Không phản ánh đặc thù đào tạo chuyên sâu: Khối ngành sức khỏe, đặc biệt Nha khoa, không cần nhiều ngành đại học mà cần đào tạo sâu và kỹ lưỡng một mã ngành chính.

Phân tán nguồn lực: Để “đủ số lượng”, đơn vị đào tạo buộc phải mở ngành không thuộc thế mạnh, dẫn tới thiếu giảng viên, cơ sở vật chất và ảnh hưởng chất lượng đào tạo chính.

Lãng phí ngân sách và cơ sở vật chất: Đầu tư một ngành mới trong y tế thường tốn kém gấp nhiều lần các ngành khác. Nếu ngành đó không thật sự cần thiết, khoản đầu tư trở thành gánh nặng.

Khó hội nhập quốc tế: Nhiều hiệp định công nhận văn bằng trong khu vực (ASEAN, APEC) dựa vào cấu trúc đào tạo tương đồng, không dựa vào số mã ngành. Sự khác biệt về cấu trúc mã ngành có thể gây khó khăn khi đối sánh.

Thị trường lao động không cần nhiều ngành đại học mới: Nhu cầu nhân lực y tế chất lượng cao tập trung vào các ngành cốt lõi; các chuyên khoa được đào tạo sau đại học. Mở thêm mã ngành bậc cử nhân không giải quyết được nhiều cho việc nâng cao chất lượng đào tạo.

Chỉ tiêu sinh viên bị chia nhỏ: Khi có nhiều mã ngành, chỉ tiêu cho từng ngành có thể bị giảm nếu cơ sở vật chất không đáp ứng được tốt, khó duy trì môi trường đào tạo lâm sàng đạt chuẩn (vốn đòi hỏi số lượng ca bệnh và giảng viên phù hợp).

Ngoài các lý do trên, có thêm những điểm mấu chốt: Mã ngành đại học ít, nhưng sau đại học đa dạng để hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới: Các trường chỉ cần một đến hai mã ngành đại học nhưng có thể mở nhiều mã ngành sau đại học chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu xã hội và thị trường lao động. Đây là mô hình phổ biến ở Singapore, Thái Lan, Malaysia và các nước phát triển khác như Nhật, Mỹ, Úc…Chất lượng quan trọng hơn số lượng: Xếp hạng quốc tế, đánh giá kiểm định (như CODA của Mỹ, ADEE của châu Âu) đều dựa vào chuẩn đầu ra, nghiên cứu, cơ sở vật chất - không yêu cầu số ngành tối thiểu. Tập trung thế mạnh và thương hiệu: Một trường chuyên sâu thường dễ xây dựng thương hiệu mạnh hơn là trường đa ngành nhưng không nổi bật ở lĩnh vực nào. Tối ưu hóa nhân lực và trang thiết bị: Cơ sở vật chất và giảng viên tập trung cho ngành mũi nhọn sẽ được khai thác tối đa, thay vì dàn trải. Phù hợp lộ trình hội nhập: Khi Việt Nam ký kết các hiệp định công nhận văn bằng y tế, việc có cấu trúc đào tạo giống các nước tiên tiến sẽ thuận lợi hơn.

Linh hoạt hơn

Với thực tế như trên, nên sửa đổi quy định “ năm mã ngành” theo hướng linh hoạt. Qui định ‘năm mã ngành’ nên áp dụng cho các trường đa ngành. Miễn hoặc giảm yêu cầu với các trường chuyên ngành sức khỏe, nếu đáp ứng tiêu chuẩn kiểm định và nhu cầu nhân lực.

Tăng vai trò của kiểm định chất lượng: Thay vì dựa vào số lượng mã ngành, nên căn cứ vào kết quả kiểm định trong nước và quốc tế.

Phát triển mạnh bậc sau đại học: Cho phép các trường chuyên ngành mở rộng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên khoa sâu. Gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và chiến lược nhân lực y tế quốc gia.

Thực tế, nhiều đơn vị đào tạo trực thuộc các cơ sở giáo dục chuyên ngành sức khỏe ở Việt Nam gặp khó khăn nếu muốn nâng cấp lên thành trường: hoặc phải mở thêm ngành không phải thế mạnh để “đủ số lượng”, hoặc không thể đạt chuẩn để nâng cấp/hợp nhất mô hình, gây lãng phí nguồn lực và cản trở hội nhập quốc tế.

GS.TS Võ Trương Như Ngọc (Phó viện trưởng Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Hà nội)

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/dao-tao-dai-hoc-khoi-suc-khoe-can-linh-hoat-quy-dinh-so-luong-ma-nganh-post1830665.tpo