Đào tạo nghề vùng khó đi cùng sinh kế của người học yếu thế
Đào tạo nghề cho người yếu thế cần vượt khỏi mục tiêu cấp chứng chỉ, hướng tới việc làm, tăng thu nhập và khả năng tự tạo sinh kế.

Đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề Thanh, Thiếu niên khuyết tật, đặc biệt khó khăn Thanh Hóa.
Đào tạo sát nhu cầu người học và thị trường lao động
Với những người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người có thu nhập thấp, học nghề không đơn thuần là bổ sung một kỹ năng mà còn là cơ hội tạo việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống. Vì vậy, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đang tìm cách tổ chức đào tạo phù hợp hơn với đặc điểm của từng nhóm người học, đồng thời gắn quá trình học nghề với thị trường lao động.
Tại Trường Trung cấp nghề Thanh, Thiếu niên khuyết tật, đặc biệt khó khăn Thanh Hóa, nhiệm vụ này càng có ý nghĩa bởi đây là cơ sở giáo dục nghề nghiệp đặc thù, tiếp nhận và đào tạo nghề miễn phí cho người khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, học sinh là người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa trên địa bàn toàn tỉnh.
Theo ông Trương Ngọc Tiến, Hiệu trưởng nhà trường, Trường vừa đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp nghề cho người khuyết tật, người có hoàn cảnh khó khăn, vừa dạy chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT hoặc khối lượng kiến thức văn hóa THPT cho học sinh tốt nghiệp THCS học tiếp lên trình độ trung cấp.
Từ khi thành lập đến nay, Trường đã đào tạo hàng nghìn học sinh. Trong đó, học sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người lao động có thu nhập thấp chiếm khoảng 60% tổng số học sinh được đào tạo.
Kết thúc khóa học, với kiến thức, kỹ năng và năng lực đạt được, học sinh được nhà trường tư vấn, giới thiệu việc làm cho các doanh nghiệp. Do vậy, các em được nhận vào làm việc tại các xí nghiệp, nhà máy, tự nuôi sống bản thân, phụ giúp cho gia đình, thoát nghèo và làm giàu cho xã hội.
Trong quá trình đào tạo nghề, nhà trường đã chú trọng lựa chọn những ngành nghề phù hợp với khả năng của học sinh và điều kiện thực tế; kết hợp giữa kiến thức ngành nghề với kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm để người học có thể tham gia thị trường lao động.
Tại Trường Cao đẳng Vĩnh Long, đào tạo nghề cho nhóm yếu thế cũng được xác định là nhiệm vụ có ý nghĩa đối với thực hiện chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững.
Theo bà Nguyễn Thị Mỹ Linh, Phó Hiệu trưởng nhà trường, mục tiêu của đào tạo nghề cho người nghèo không chỉ dừng ở việc giúp người học có chứng chỉ nghề, mà quan trọng hơn là phải giúp họ có khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống.
Nhà trường có thể tổ chức đào tạo theo nhiều hình thức, từ đào tạo chính quy, đào tạo thường xuyên đến các lớp theo nhu cầu của địa phương, hướng tới lao động nông thôn, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, người có thu nhập thấp và người có nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp.
Một trong những yêu cầu được đặt ra là đưa đào tạo nghề đến gần người dân hơn. Thay vì chỉ mở lớp và chờ người học đăng ký, nhà trường cần khảo sát trực tiếp tại địa phương, xác định nhu cầu, lựa chọn nghề phù hợp với điều kiện sản xuất cũng như khả năng tìm việc của người học.
Các chương trình đào tạo cũng cần ngắn gọn, thực hành nhiều, linh hoạt về thời gian và địa điểm. Đối với lao động vùng khó, nên ưu tiên những nghề có khả năng tạo việc làm tại chỗ hoặc tự tạo việc làm, gắn với thế mạnh kinh tế của từng địa phương.

Đào tạo nghề tại Trường CĐ Vĩnh Long.
Từ hỗ trợ học nghề đến hỗ trợ cả chuỗi sinh kế
Thực tế triển khai cho thấy, người yếu thế không chỉ gặp khó khăn về học phí mà còn đối mặt với nhiều rào cản khác trong quá trình học nghề. Tại Trường Trung cấp nghề Thanh, Thiếu niên khuyết tật, đặc biệt khó khăn Thanh Hóa, người học gặp hạn chế trong tiếp cận thông tin học nghề; điều kiện kinh tế, chi phí đi lại, sức khỏe và khả năng duy trì việc học đều ảnh hưởng đến quá trình đào tạo.
Đối với học sinh khuyết tật, chương trình và phương pháp đào tạo còn phải điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng. Trong khi đó, nguồn kinh phí của nhà trường còn eo hẹp, cơ sở vật chất xuống cấp, trang thiết bị dạy nghề thiếu và không đồng bộ, gây khó khăn cho hoạt động đào tạo.
Để khắc phục, ông Trương Ngọc Tiến cho biết, nhà trường đã tổ chức cho cán bộ, giáo viên xây dựng các đề án thiết bị dạy nghề tự làm phục vụ giảng dạy. Đồng thời, liên tục để học sinh kiến tập, thực tập tại doanh nghiệp có sự quản lý và hướng dẫn của đội ngũ giáo viên nhà trường.
Trường cũng thành lập các xưởng gia công, sản xuất để học sinh tham gia thực hiện, vừa cung cấp sản phẩm cho doanh nghiệp, vừa tạo thu nhập cho học sinh và tăng nguồn phí cho nhà trường.
Ông Trương Ngọc Tiến kiến nghị các cấp, các ngành và doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo; xây dựng chương trình phù hợp với từng nhóm đối tượng người học.
Từ thực tiễn của Trường Cao đẳng Vĩnh Long, bà Nguyễn Thị Mỹ Linh cho rằng, một trong những vấn đề lớn nhất là người nghèo thường thiếu cả điều kiện để theo học. Họ có thể phải đi làm để duy trì cuộc sống, khó bố trí thời gian học tập, phải chịu chi phí đi lại, ăn ở; trình độ văn hóa không đồng đều và tâm lý e ngại khi tham gia đào tạo nghề.
Giải pháp quan trọng là phải chuyển từ tư duy “hỗ trợ học nghề” sang “hỗ trợ cả chuỗi sinh kế”. Nghĩa là sau đào tạo cần tiếp tục kết nối việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp, hỗ trợ tiếp cận doanh nghiệp, hợp tác xã, vốn và các nguồn lực sản xuất phù hợp.
Trường Cao đẳng Vĩnh Long cũng đề xuất tăng cường phối hợp với chính quyền cấp xã, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp và hợp tác xã để xác định đúng đối tượng, đúng nhu cầu và đúng nghề đào tạo, tránh tình trạng đào tạo xong nhưng người học không có việc làm hoặc không áp dụng được nghề đã học.
Thực tế từ hai cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho thấy, với nhóm lao động yếu thế, hiệu quả đào tạo không thể chỉ đo bằng số người tham gia hay số chứng chỉ được cấp. Giá trị của một khóa học phải được thể hiện ở khả năng giúp người học có việc làm, tự tạo việc làm, tăng thu nhập và ổn định cuộc sống.
Bởi vậy, cùng với mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục nghề nghiệp, chính sách cần quan tâm đến toàn bộ quá trình từ xác định nhu cầu, tổ chức đào tạo, hỗ trợ người học trong quá trình học đến kết nối việc làm và các nguồn lực sản xuất sau đào tạo. Khi chuỗi hỗ trợ này được nối liền, đào tạo nghề mới thực sự trở thành một công cụ giảm nghèo bền vững.

