Đất bỏ hoang có thể bị đánh thuế 0,2%: Những trường hợp nào thuộc diện đề xuất?
Chính phủ đề xuất áp thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng và đất chậm đưa vào sử dụng. Đây là mức thuế cao nhất trong Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành. Tuy nhiên, Quốc hội đang yêu cầu làm rõ tiêu chí xác định, thời điểm tính thuế và cách xử lý với những trường hợp chậm sử dụng do nguyên nhân khách quan.

Đề xuất thuế 0,2% hướng tới hạn chế tình trạng bỏ hoang, găm giữ đất, nhưng cần xác định rõ những trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng do nguyên nhân khách quan. Ảnh: Tuấn Đông
Đề xuất thuế 0,2% với đất bỏ hoang
Theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân, Chính phủ đề xuất bổ sung thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng và đất chậm đưa vào sử dụng.
Bộ Tài chính cho biết mức 0,2% là mức thuế suất cao nhất trong Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành, tương đương mức thuế đối với đất lấn, chiếm và cao hơn gần 7 lần mức 0,03% áp dụng đối với đất ở trong hạn mức. Dự thảo cũng đề xuất không áp dụng hạn mức đối với nhóm đất này.
Chính sách nhằm thực hiện chủ trương sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế đầu cơ và chống lãng phí đất đai theo Nghị quyết 21-NQ/TW. Chính phủ đề xuất Luật có hiệu lực từ ngày 1.1.2027 nếu được Quốc hội thông qua.
Tuy nhiên, 0,2% hiện mới là mức được đề xuất trong dự thảo luật. Quốc hội đang yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ phạm vi và cách thức áp dụng.
Những trường hợp cần làm rõ trước khi áp thuế 0,2%
Đất nào được xác định là “bỏ hoang”, “không đưa vào sử dụng”, “chậm đưa vào sử dụng”.
Thời điểm bắt đầu tính thuế và thời gian chậm sử dụng được tính như thế nào.
Cơ quan nào có thẩm quyền xác định tình trạng và nguyên nhân chậm sử dụng đất.
Trường hợp chậm do giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính, điều chỉnh quy hoạch, tranh chấp hoặc bất khả kháng có được loại trừ hay không.
Cách xử lý khi cùng một diện tích đất đồng thời thuộc diện chịu thuế 0,2% và các nghĩa vụ tài chính theo pháp luật đất đai.
Không phải cứ để đất trống là bị tính thuế
Vấn đề được quan tâm nhất là xác định thế nào là đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.
Đại biểu Đoàn Thu Hà - Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn đề nghị làm rõ ba khái niệm này, đồng thời xác định thời điểm bắt đầu tính thuế. Theo bà, đây là cơ sở để tránh tình trạng người sử dụng đất bị tính thuế cao nhưng không xác định rõ nguyên nhân và thời gian chậm sử dụng.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng đề nghị phân biệt trường hợp cố tình giữ đất với đất chậm triển khai do nguyên nhân khách quan. Những trường hợp vướng giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính, chưa được bàn giao đất, điều chỉnh quy hoạch hoặc bất khả kháng cần có cách xử lý phù hợp.
Đại biểu Lê Hoàng Anh - Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai đặt vấn đề mức thuế 0,2% có đủ sức ngăn tình trạng đầu cơ, găm giữ đất hay không. Theo ông, cần tính đến thời gian đất bị bỏ hoang và nghiên cứu cơ chế thuế lũy tiến để tạo sức ép lớn hơn đối với trường hợp cố tình giữ đất trong thời gian dài.
Từ góc độ thị trường, ông Đinh Minh Tuấn, Giám đốc khu vực miền Nam của Batdongsan, cho rằng việc xác định đất bỏ hoang cần dựa trên hồ sơ pháp lý và nguyên nhân cụ thể. Với dự án bị đình trệ do vướng quy hoạch hoặc pháp lý, cần phân biệt với trường hợp chủ đầu tư cố tình không triển khai.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn cũng cho rằng nếu không phân biệt được đất chưa triển khai do nguyên nhân khách quan với đất bị cố tình bỏ trống, chính sách thuế có thể làm tăng chi phí nhưng chưa giải quyết được nguyên nhân khiến đất không được đưa vào sử dụng.
Thuế cao có đủ sức chống đầu cơ?
Theo quy định hiện hành, pháp luật đã có các mức thuế đối với một số trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích và các cơ chế tài chính đối với dự án chậm đưa đất vào sử dụng. Vì vậy, việc bổ sung mức 0,2% phải được thiết kế thống nhất để tránh một diện tích đất đồng thời chịu nhiều nghĩa vụ tài chính cho cùng một hành vi.
Đại biểu Phạm Thị Phương - Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai đề nghị làm rõ căn cứ lựa chọn mức thuế 0,2%, đánh giá tác động đến người dân, doanh nghiệp và có cơ chế phù hợp với trường hợp chậm sử dụng do nguyên nhân khách quan.
Đại biểu Tô Huy Vũ - Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội lưu ý nguy cơ chồng lấn giữa mức thuế mới với các khoản tiền phải nộp thêm theo pháp luật đất đai. Theo ông, cần hoàn thiện tiêu chí xác định trước khi áp dụng để tránh phát sinh cách hiểu và cách thực hiện khác nhau.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân - Đoàn ĐBQH TP.HCM cũng lưu ý trường hợp cá nhân mua đất nhưng chưa đủ điều kiện kinh tế để xây dựng nhà. Việc để đất trống trong trường hợp này cần được xem xét khác với hành vi cố tình bỏ đất để chờ tăng giá.
Việc nộp thuế, nếu chính sách được thông qua, cũng không thay thế nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích và không đồng nghĩa người sử dụng đất được giữ đất vô thời hạn. Các quy định về tiến độ sử dụng đất, gia hạn, xử lý vi phạm và thu hồi đất vẫn được thực hiện theo pháp luật đất đai.
Mức thuế hiện hành và đề xuất mới
Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành quy định thuế suất đối với đất ở trong hạn mức là 0,03%; phần diện tích vượt không quá 3 lần hạn mức là 0,07%; phần vượt trên 3 lần hạn mức là 0,15%.
Dự thảo mới đề xuất mức 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng, không áp dụng hạn mức. Mức này cao hơn nhiều lần so với thuế suất thông thường đối với đất ở.
Chính sách đang được Quốc hội xem xét trong quá trình thảo luận dự án luật. Mức thuế, phạm vi áp dụng, thời điểm tính thuế và các trường hợp được loại trừ chỉ được xác định chính thức sau khi luật được Quốc hội thông qua.



