Đặt niềm tin vào thế hệ trẻ

Tiến sĩ Đinh Đức Tiến chia sẻ cùng phóng viên Nhân Dân cuối tuần nhiều suy ngẫm, kỳ vọng của anh về vai trò, vị thế của văn hóa trong đời sống đất nước.

Tiến sĩ Đinh Đức Tiến.

Tiến sĩ Đinh Đức Tiến.

Câu chuyện đan cài nhiều quan sát, trải nghiệm của cá nhân anh từ công việc nghiên cứu khoa học và giảng dạy chuyên ngành Văn hóa học tại Khoa Lịch sử, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,

Hai dòng chảy mạnh mẽ và uyển chuyển

- Nhìn lại dòng chảy lịch sử, mỗi chúng ta đều thấy có những thăng trầm nhất định của vị thế văn hóa trong đời sống xã hội. Trước hết, dưới nhãn quan của một nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam, anh có thể chia sẻ đôi điều về nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam qua thời gian?

- Văn hóa có thể được coi là linh hồn của lịch sử mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới và đương nhiên là cả Việt Nam. Suy cho cùng, mỗi quốc gia, dân tộc khẳng định vị thế trên các phương diện khác nhau, từ chính trị, ngoại giao, kinh tế tới xã hội, quốc phòng, an ninh…, đều dựa trên nền tảng của văn hóa. Đơn cử, chính sách “ngoại giao cây tre” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là dựa trên bản sắc và bản lĩnh của văn hóa dân tộc. Hay, trong lĩnh vực quốc phòng, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, cha ông ta đã đúc rút thành những bài học kinh nghiệm, nghệ thuật quân sự - văn hóa vũ trang, được các thế hệ con dân Việt Nam kế thừa để bảo vệ Tổ quốc.

Có thể phân chia văn hóa Việt Nam trong lịch sử thành hai dòng chảy chủ đạo. Thứ nhất, dòng chảy văn hóa hàn lâm mang tính chất quan phương (mang tính chất cung đình, bác học, quy củ, mẫu mực, thành văn…) gắn với tầng lớp quý tộc, trí thức…; thứ hai, dòng chảy văn hóa dân gian mang tính phi quan phương (mang tính chất phổ thông, nhân dân, cởi mở, có hơi hướng tự do, truyền miệng…) gắn với tầng lớp bình dân. Sự phân tách này chỉ là cách hiểu mang tính chất lý thuyết và tương đối bởi trong thực tế, hai dòng chảy văn hóa này luôn song hành, hòa quyện, bổ trợ cho nhau, mặc dù trong những giai đoạn nhất định, cũng có kìm hãm, hạn chế lẫn nhau, nhưng không bao giờ triệt tiêu nhau. Khi văn hóa hàn lâm được định hình, phát triển rực rỡ, dòng chảy này quay lại bồi đắp, sáng tạo ra những xu hướng mới cho văn hóa dân gian… Đặc biệt, dòng chảy văn hóa dân gian luôn là mạch ngầm, âm thầm duy trì và trở thành bệ đỡ quan trọng cho dòng chảy văn hóa hàn lâm mỗi khi xảy ra khủng hoảng. Ở Việt Nam, dòng chảy văn hóa dân gian có cơ chế vận hành riêng biệt và nhờ vậy, mà tín ngưỡng dân gian trở thành yếu tố cân bằng, đối trọng, hòa tan tính cực đoan của các tôn giáo khi sinh tồn trong văn hóa Việt Nam.

- Theo cách phân chia dù là tương đối này, có lẽ, vị thế của văn hóa có những thăng trầm khác nhau theo quan niệm của từng triều đại quân chủ, cũng như nhà nước hiện đại, thưa anh?

- Vào những giai đoạn thịnh trị của những triều đại có xu hướng “chuyên chế”, dòng chảy văn hóa hàn lâm thường phát triển rực rỡ bên cạnh dòng chảy văn hóa dân gian. Tuy nhiên, thường là khi hệ tư tưởng chính thống được đề cao, bộ máy và công cụ quản lý nhà nước hoàn bị, kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khác nhau của đời sống xã hội, văn hóa dân gian dễ bị hạn chế phát triển, phải ẩn mình vào đời sống dân dã của làng xã. Đơn cử, thời hoàng đế Lê Thánh Tông (vương triều Lê sơ, thế kỷ XV), được coi là thịnh trị nhất, mẫu mực nhất trong lịch sử quân chủ Việt Nam, triều đình lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, hạn chế phát triển Phật giáo, Đạo giáo và các loại hình tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian.

Tuy nhiên, nếu trong các giai đoạn thịnh trị nhưng các vương triều thực thi chính sách có xu hướng “thân dân”, như hai triều đại Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV), thì một mặt, dòng chảy văn hóa cung đình phát triển mạnh mẽ bên cạnh dòng chảy văn hóa dân gian; nhưng mặt khác, hai dòng chảy này bổ trợ, dung dưỡng cho nhau trong hành trình xây dựng nền văn hóa độc lập, tự chủ, mang màu sắc Đại Việt.

Bước vào giai đoạn khủng hoảng (mạt triều) của các triều đại quân chủ, quyền lực của hoàng đế bị giảm sút, hệ tư tưởng chính thống bị khủng hoảng, cuộc sống của nhân dân khó khăn, chính là lúc văn hóa dân gian (nhất là văn hóa tôn giáo - tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật) phát triển mạnh mẽ. Nguyên do là: một mặt, đó là kênh giải tỏa những khó khăn, nhọc nhằn, bức xúc của người dân khi gặp nhiều bất công của thời cuộc; mặt khác, tầng lớp trí thức quan phương bất mãn với triều đình, sau khi nhận ra những bất cập của hệ tư tưởng Nho giáo, đã thông qua tiếng nói của dân gian để giãi bày tâm sự. Sự phát triển của các loại hình tôn giáo - tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian (diễn xướng, tạo hình), vừa là để đáp ứng nhu cầu tâm linh, nghệ thuật của người dân, vừa là đối trọng - cân bằng lại sự khủng hoảng chính trị, giải tỏa những áp lực của xã hội. Đơn cử, giai đoạn lịch sử của các vương triều từ nhà Mạc đến Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI - XVIII). Khi Nho giáo khủng hoảng, Phật giáo, Đạo giáo - tín ngưỡng dân gian đã “phục hưng”; nghệ thuật thi ca, diễn xướng, tạo hình cũng nở rộ, đạt được nhiều thành tựu.

Có thể nói, dù ở giai đoạn lịch sử hay vương triều nào, các vị quân vương ở Việt Nam đều nhận thức được vị trí, vai trò của văn hóa đối với đất nước. Nhưng họ sẽ ưu tiên đề cao phát triển dòng chảy văn hóa được cho phù hợp với thời cuộc và nhận thức chính trị của cá nhân họ. Nếu như văn hóa cung đình, hàn lâm hướng đến mục tiêu bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lực của hoàng đế - hoàng tộc và thể chế chính trị thì văn hóa dân gian hướng đến mục tiêu đề cao khát vọng của nhân dân về cuộc sống no đủ, hạnh phúc và bình an. Mặc dù vậy, cả hai dòng chảy này đều có một mục đích chung là giữ gìn độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải và cuộc sống phồn thịnh, tự do, hạnh phúc.

 Sinh viên năm thứ nhất, Khoa Lịch sử, thực tập khai quật Khảo cổ học tại Quảng Ninh, năm 2025. (Nguồn ảnh: Fanpage của Khoa Lịch sử)

Sinh viên năm thứ nhất, Khoa Lịch sử, thực tập khai quật Khảo cổ học tại Quảng Ninh, năm 2025. (Nguồn ảnh: Fanpage của Khoa Lịch sử)

Nguồn năng lượng nội sinh cho phát triển

- Từ giảng đường đại học nhiều năm qua, anh quan sát thấy mối bận tâm, suy tư của người trẻ về nghiên cứu văn hóa lịch sử dân tộc có chuyển biến gì đáng kể?

- Nhiều năm làm công tác giảng dạy về lịch sử - văn hóa ở bậc đại học, cá nhân tôi nhận thấy, giới trẻ hiện nay đang có những tâm tư nhất định về việc chọn ngành lịch sử, văn hóa để theo đuổi. Họ tâm tư bởi môn học khó, chương trình nặng, có phần cũ kỹ, nhàm chán, thiếu tính thực tiễn, chưa kể, tương lai nghề nghiệp khá mờ mịt.

Lịch sử, văn hóa không phải lựa chọn đầu tiên của nhiều bạn, họ vào học do “hoàn cảnh xô đẩy”. Nhưng, cũng có những bạn sinh viên tâm huyết lựa chọn do sở thích cá nhân. Hiện nay, đang có phân hóa rất rõ đối với ngành học hoặc môn học liên quan. Có những nhóm sinh viên học lịch sử một cách bài bản và đi theo hướng nghiên cứu chuyên sâu. Nhóm khác, theo xu hướng học tập để lĩnh hội đủ kiến thức cơ bản và có sở thích sáng tạo trên chất liệu/nền tảng của lịch sử, văn hóa Việt Nam. Điều đáng kể, nhiều bạn trẻ hiện nay, kể cả đang học bậc đại học và cao học, không chỉ tiếp cận lịch sử và văn hóa một chiều, mà họ nhìn nhận đa chiều với hệ thống lý thuyết, phương pháp khác nhau.

Từ đó, họ diễn ngôn lịch sử, văn hóa Việt Nam theo một cách khác, ấn tượng và sinh động hơn. Bằng lối tư duy ngược, các bạn trẻ đặt ra nhiều giả thuyết khác nhau về cùng một đối tượng nghiên cứu. Từ đó, kết quả khoa học trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa có nhiều quan điểm, góc nhìn khác nhau, thậm chí trái ngược nhau… Nhưng nó tạo nên sự đa dạng không chỉ trong học thuật chuyên môn, mà còn là chất liệu cho những bạn có xu hướng sáng tạo trong thiết kế sản phẩm và truyền thông, dựa trên chất liệu văn hóa, lịch sử.

Theo thời gian, tôi luôn đặt niềm tin của bản thân mình vào sinh viên, cho dù họ đang, sẽ tiếp tục công việc chuyên môn của một nhà sử học hay ứng dụng kiến thức trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Với đam mê, nhiệt huyết, họ dám dấn thân, nhẫn nại, âm thầm làm việc. Nhưng quan trọng nhất, nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ Gen Z, Alpha… đã thích nghi, vượt lên khó khăn từ việc “bị hoàn cảnh xô đẩy” đến cảm nhận được cái hay của ngành học, rồi tự nhận thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân đối với giá trị của truyền thống dân tộc. Tôi nhận thấy năng lượng tích cực từ các bạn ấy, không chỉ là học tập, nghiên cứu lịch sử, văn hóa để thuần túy truyền bá về lòng yêu nước, tự hào bản sắc văn hóa dân tộc, mà trên cơ sở đó, các bạn còn sử dụng kiến thức để sáng tạo, mở ra những hướng đi mới, đem lại những sản phẩm thiết thực, phục vụ cho đời sống của cộng đồng. Hơn thế nữa, những góc nhìn mới, sản phẩm sáng tạo mới đã trở thành công cụ truyền bá lòng yêu nước, tinh thần dân tộc một cách hiệu quả hơn, ấn tượng hơn.

- Nhân đây, anh có thể chia sẻ thêm những hy vọng về sức bật của đất nước, khi văn hóa dân tộc được xác quyết là yếu tố nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững?

- Tôi cho rằng, trong nhiều năm gần đây, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa là phù hợp, đúng đắn. Chúng ta lựa chọn nền tảng văn hóa dân tộc không chỉ là bệ đỡ tinh thần chung chung, mà còn coi đây là nguồn tài nguyên đặc thù cần đưa vào khai thác thông qua các hoạt động sáng tạo để phát triển kinh tế - xã hội. Đây chính là việc chúng ta dựa vào sức mạnh nội sinh: truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa dân tộc đa dạng trong thống nhất để phát triển đất nước. Đây là xu hướng phát triển kinh tế - xã hội thông minh, bền vững và bản lĩnh của một quốc gia có hàng nghìn năm lịch sử.

- Xin cảm ơn những chia sẻ của anh.

Đào Mai Trang (thực hiện)

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/dat-niem-tin-vao-the-he-tre-post944995.html