Đất nước đi cùng những ước mơ

Có những điều từng là ước mơ của cả một thế hệ, hôm nay đã trở thành bình dị trong cuộc sống mỗi ngày. Từ khát vọng hòa bình, no ấm, được học hành đến mong muốn làm giàu, sáng tạo, làm chủ công nghệ và bước ra thế giới, những ước mơ của người Việt Nam đã đi xa cùng hành trình phát triển của đất nước. 81 năm sau mùa Thu Độc lập, nhìn lại chặng đường ấy cũng là nhìn vào những điều người Việt Nam hôm nay có thể nghĩ tới, có quyền lựa chọn và biến những ước mơ thành hiện thực.

Ông Nguyễn Túc. Ảnh: Quang Vinh

Ông Nguyễn Túc. Ảnh: Quang Vinh

Ông Nguyễn Túc: Một đời đi cùng "độc lập, tự do"

Năm 1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, ông Nguyễn Túc, Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam mới 8 tuổi. Ở tuổi ấy, cậu bé Nguyễn Túc chưa thể hiểu hết ý nghĩa của hai tiếng độc lập, tự do. Ông chỉ nhớ rằng khi đó báo chí, phương tiện thông tin hầu như chưa có. Hai ngày sau, thầy giáo mang bản Tuyên ngôn Độc lập đến cho học sinh chép lại, rồi đi từng nhà đọc cho người dân nghe bởi khi ấy 95% người dân còn mù chữ.

Ký ức ấy theo ông suốt hơn tám thập niên, để đến hôm nay, khi nhìn lại chặng đường đất nước đã đi qua, ông càng hiểu sâu hơn điều mà tuổi thơ mình khi ấy chưa thể cảm nhận hết.

“Lúc bấy giờ tuổi còn nhỏ, tôi chưa hiểu hết được ý nghĩa của hai từ độc lập, tự do. Nhưng qua hơn 80 năm, thì tôi càng thấm thía câu nói của Bác Hồ: ‘Không có gì quý hơn độc lập, tự do’”, ông Nguyễn Túc chia sẻ.

Từ một dân tộc bị áp bức, nô lệ, Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, có tiềm lực, vị thế và uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế. Nhưng điều khiến ông xúc động hơn cả khi nhìn lại chặng đường 81 năm là giá trị của độc lập, tự do đã đi vào đời sống của từng người dân. Theo ông, thành quả lớn lao nhất của cách mạng chính là người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước mình, được học hành, lao động, lựa chọn con đường sống và nghĩ về tương lai bằng những khát vọng của chính mình.

Ông nhắc lại điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Hơn nửa thế kỷ kể từ ngày Bác đi xa, mong muốn ấy vẫn được các thế hệ người Việt Nam tiếp tục thực hiện. Với ông Nguyễn Túc, muốn đất nước đi xa hơn thì sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc vẫn là điều không thể thay thế. Dân chủ phải được thực hiện thực chất, tiếng nói của người dân phải được lắng nghe và mọi chủ trương, chính sách cuối cùng phải trở về với cuộc sống.

“Mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước phải lấy người dân làm trung tâm, làm mục tiêu, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp”, ông Nguyễn Túc khẳng định.

Ở tuổi 90, ông bảo những ước mơ thời trẻ của mình đã trở thành hiện thực. Khi còn trẻ, ông mong đất nước độc lập, tự do; bản thân được học tập, có việc làm và phấn đấu trở thành một đảng viên gương mẫu. Bây giờ, điều ông mong lại dành cho những năm tháng phía trước của đất nước.

“Bây giờ, ở tuổi 90, tôi chỉ mong đất nước mãi mãi phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc Việt Nam có đóng góp quan trọng vào hòa bình, ổn định của thế giới. Mong rằng trước khi về với Bác Hồ, chúng tôi có thể báo cáo với Bác rằng các thế hệ tiếp theo đã làm theo lời Bác và hoàn thành nhiệm vụ”, ông Nguyễn Túc tự hào chia sẻ.  

Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh. Ảnh: Quang Vinh

Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh. Ảnh: Quang Vinh

Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh: Đi cùng đất nước bằng tình yêu thương

Hơn 40 năm đi qua nhiều vùng đất còn khó khăn, đến với những gia đình nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và những người yếu thế, Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh có một thói quen: nơi nào đã từng đến, nếu có dịp ông thường muốn trở lại. Ông muốn biết những người mình từng gặp bây giờ sống ra sao, những đứa trẻ ngày ấy có còn đi học, những gia đình từng nhận giúp đỡ đã vượt qua khó khăn như thế nào…

Ở vùng đất Cẩm Thủy, Thanh Hóa, gần 15 năm trước, ông từng cùng chính quyền, các linh mục, chức sắc tôn giáo vận động, hỗ trợ những người sống trên thuyền, không phân biệt tôn giáo, có đạo hay không, lên bờ ổn định cuộc sống. Khi trở lại, điều ông quan tâm không phải người dân còn nhớ mình đã từng mang đến những gì, mà là cuộc sống của họ đã đổi thay ra sao.

Ở vùng huyện Lắk (cũ) của tỉnh Đắk Lắk, ông từng đến với những buôn làng còn nhiều khó khăn. Năm 2019, huyện Lắk nằm trong danh sách 74 huyện nghèo cả nước, hơn 63% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chỉ khoảng 15% diện tích đất có thể sản xuất. Nhưng đến năm 2022, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân, Lắk đã không còn trong danh sách huyện nghèo giai đoạn 2021-2025.

Những con số ấy với ông không nằm trên giấy, bởi phía sau đó là những con đường ông từng đi qua, những gia đình ông từng ngồi lại trò chuyện, là buôn Lê trong tiếng cồng chiêng, trong vòng xoang mà người Kinh, đồng bào dân tộc, người có đạo và không có đạo cùng nắm tay nhau. Sự đổi thay của đất nước, trong cảm nhận của ông, nhiều khi bắt đầu từ những điều rất cụ thể như một con đường đến bản thuận lợi hơn, một đứa trẻ được đến trường đều đặn hơn, một gia đình có kế sinh nhai và một cộng đồng có thể sống gần nhau bằng sự tin cậy, sẻ chia.

Trong những ngày dịch Covid-19 khốc liệt, khi nhiều cơ sở tôn giáo đang chăm sóc người già neo đơn, trẻ mồ côi, phụ nữ mang thai có hoàn cảnh khó khăn, ông đề xuất hỗ trợ vaccine cho những nơi ấy. 15.000 liều vaccine đã được tạo điều kiện cấp phát. Đi qua những ngày tháng đó, điều ông nhớ nhất là lúc chính quyền, Giáo hội, doanh nghiệp, những người làm công tác xã hội và người dân cùng tìm đến nhau khi sinh mạng con người cần được bảo vệ.

Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh và những người đồng hành trở về thăm hỏi bà con đồng bào dân tộc- những người từng được ông trao tặng giống cây sầu riêng ở tỉnh Quảng Ngãi ( Kon Tum cũ). Ảnh: Quang Vinh.

Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh và những người đồng hành trở về thăm hỏi bà con đồng bào dân tộc- những người từng được ông trao tặng giống cây sầu riêng ở tỉnh Quảng Ngãi ( Kon Tum cũ). Ảnh: Quang Vinh.

Suốt hành trình của mình, ông thường nhắc đến tinh thần “Hãy bắc cầu - Đừng xây tường”. Với ông, cây cầu ấy có thể nối người có điều kiện với người đang khó khăn, nối đồng bào các tôn giáo, nối những người Việt Nam ở những hoàn cảnh khác nhau. Khi những khoảng cách được thu hẹp bằng sự sẻ chia và tin cậy, sức mạnh đoàn kết được bồi đắp.

Tước phẩm Hiệp sĩ Đại Thánh giá là do Giáo hoàng Giáo hội Hoàn vũ trao tặng cho những giáo dân có đóng góp lớn cho Giáo hội và xã hội, nhưng trong những chuyến đi của mình, Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh vẫn luôn nhắc rằng “trên hết tôi là người Việt Nam”. Đức tin dẫn lối để ông có một đời sống đạo là phải gắn trách nhiệm của mình với đồng bào, quê hương và Tổ quốc.

Đi qua nhiều năm tháng cùng đất nước, điều làm Hiệp sĩ Lê Đức Thịnh vui hôm nay là những ước mong của thế hệ mình năm nào đã trở thành cuộc sống bình thường của lớp trẻ. Một đất nước hòa bình, trẻ em được học hành, người dân có cơ hội làm ăn, vươn lên; và từ những điều từng là mong mỏi lớn lao của thế hệ trước, người trẻ Việt Nam hôm nay đã có thể nghĩ tới khoa học, công nghệ, những doanh nghiệp lớn, những công trình hiện đại và một ngày nào đó mang trí tuệ Việt Nam đi khắp thế giới.

“Thế hệ chúng tôi từng mong đất nước hòa bình, người dân được no ấm, con trẻ được học hành. Hôm nay những điều từng là ước mong ấy đã trở thành điểm bắt đầu để thế hệ trẻ nghĩ đến những điều xa hơn: làm chủ tri thức, làm chủ công nghệ, làm cho Việt Nam giàu mạnh và có vị thế trên thế giới. Được nhìn thấy những người trẻ có thể mang những ước mơ như vậy, với những người đã đi qua một chặng đường dài như chúng tôi, đó đã là một niềm hạnh phúc”, Hiệp sĩ Lê Đức Thịnh chia sẻ.

Ông mong người trẻ dám nghĩ lớn, dám bước ra ngoài biên giới của những điều quen thuộc, học những tri thức mới, làm chủ công nghệ, xây dựng những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh với thế giới, nhưng dù đi đến đâu, làm được những điều lớn lao thế nào thì vẫn luôn ghi nhớ mình là người Việt Nam.

Theo ông, một đất nước mạnh không thể chỉ được nhận biết qua những thành phố lớn, những công trình hiện đại hay những doanh nghiệp có mặt trên thị trường quốc tế. Sự phát triển còn phải đến được với những người đang sống ở vùng sâu, vùng xa, với người già, người yếu thế, những gia đình vẫn còn khó khăn; người đi nhanh có thể dìu người đi chậm hơn, người còn khỏe có thể chăm lo cho người yếu hơn, còn người cao tuổi nếu vẫn có sức khỏe, trí tuệ và kinh nghiệm thì vẫn có thể tiếp tục đóng góp cho cộng đồng và đất nước.

“Đời tôi đã đi nhiều nơi, gặp những người rất giàu có và cũng gặp những người gần như chẳng có gì trong tay. Sau cùng tôi thấy, điều làm con người gần nhau nhất vẫn là tình thương. Tôi mong đất nước mình ngày càng giàu mạnh, người Việt Nam ngày càng đi xa, nhưng trong hành trình ấy chúng ta vẫn biết quay lại nhìn người đang đi chậm hơn mình, biết đưa tay ra khi một người khác cần giúp đỡ. Một dân tộc biết cùng nhau vượt qua gian khó thì cũng sẽ biết cùng nhau đi tới những điều lớn lao. Bởi đất nước có thể thay đổi rất nhiều nhưng nghĩa đồng bào thì mãi mãi vẹn nguyên trong mỗi dòng máu Việt”, Hiệp sĩ Đại Thánh giá Lê Đức Thịnh chia sẻ.

Đại tá Trương Minh Đức.

Đại tá Trương Minh Đức.

Đại tá Trương Minh Đức: Biên cương vững từ lòng dân

Với Đại tá Trương Minh Đức - Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu, hòa bình là điều thiêng liêng và hiện hữu trong cuộc sống bình yên mỗi ngày của người dân: bà con yên tâm lên nương, trẻ em được đến trường, mỗi gia đình có thể chăm lo làm ăn và nghĩ đến một ngày mai tốt hơn.

Qua nhiều năm gắn bó với đồng bào các dân tộc trên biên giới Lai Châu, ông nhận thấy ước mơ của bà con thật giản dị: có sinh kế ổn định, mùa màng thuận lợi, con cái được học hành, cuộc sống hôm nay tốt hơn hôm qua. Muốn những ước mơ ấy trở thành hiện thực thì trước hết biên giới phải hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự phải được giữ vững.

Là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, việc thực hiện “ba bám, bốn cùng” với đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới là nhiệm vụ thường xuyên của BĐBP Lai Châu. Từ những tháng ngày sống gần dân, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con, cán bộ, chiến sĩ Biên phòng cảm nhận khá rõ những thay đổi đang diễn ra trên từng bản làng.

“Điều chúng tôi cảm nhận rõ nhất là đời sống của Nhân dân từng bước được nâng lên, diện mạo bản làng ngày càng khởi sắc và nhận thức, cách nghĩ, cách làm của bà con cũng có nhiều chuyển biến tích cực”, Đại tá Trương Minh Đức chia sẻ.

Theo ông, sự đổi thay đó trước hết có được từ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của tỉnh; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nỗ lực vươn lên của chính người dân. Với BĐBP Lai Châu, nhiệm vụ bảo vệ biên giới vì thế không chỉ là quản lý, bảo vệ đường biên, cột mốc mà còn phải góp sức xây dựng địa bàn, chăm lo đời sống Nhân dân, củng cố “thế trận lòng dân” ngay từ cơ sở. Khi một gia đình có cuộc sống ổn định, họ sẽ yên tâm bám đất; khi một bản làng phát triển, người dân sẽ thêm gắn bó với quê hương; và khi người dân tin tưởng, đồng hành cùng Bộ đội Biên phòng thì đường biên cũng được bảo vệ từ chính những bản làng ấy.

Đại tá Trương Minh Đức thăm hỏi, trao đổi với bà con đồng bào dân tộc ở bản Ngài Thầu, xã Sì Lở Lầu, tỉnh Lai Châu về cách trồng, chăm sóc cây sâm Lai Châu.

Đại tá Trương Minh Đức thăm hỏi, trao đổi với bà con đồng bào dân tộc ở bản Ngài Thầu, xã Sì Lở Lầu, tỉnh Lai Châu về cách trồng, chăm sóc cây sâm Lai Châu.

Hiện nay, BĐBP tỉnh có 108 đảng viên tham gia sinh hoạt tại hơn 108 chi bộ bản, 315 đảng viên phụ trách 1.115 hộ gia đình. Những cán bộ này trực tiếp gần dân, nắm dân, đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với bà con, đồng thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề nảy sinh từ cơ sở.

Trong phát triển kinh tế, BĐBP tỉnh xác định không chỉ hỗ trợ những khó khăn trước mắt mà quan trọng hơn là giúp bà con có sinh kế, có cách làm để tự mình vươn lên. Từ điều kiện của từng địa bàn, BĐBP tỉnh đã tham mưu, phối hợp triển khai nhiều mô hình như trồng lúa nước hai vụ cho đồng bào La Hủ, Mảng; chăn nuôi gia súc tập trung; Mô hình “Nuôi cá hồi, cá tầm”, Mô hình “BĐBP tỉnh giúp Nhân dân trồng cây Sâm Lai Châu để phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo”, Mô hình “Giúp Nhân dân trồng rau xanh tập trung, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thiết lập vùng thực phẩm an toàn để cung cấp cho các trường liên cấp ở khu vực biên giới”...

Sự gắn bó giữa người lính với đồng bào còn được nối dài qua các chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng”, Dự án “Cán bộ chiến sĩ Quân đội nâng bước em tới trường”, “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tiết học biên cương”, “Biên cương - đêm hội trăng rằm”… Cán bộ, chiến sĩ thường xuyên chăm lo học sinh, hộ gia đình khó khăn, giúp Nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai với số tiền lên đến hàng chục tỷ đồng.

Trong Phong trào “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” trong khu vực biên giới của tỉnh đã hoàn thành 2.549 căn nhà; trong đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh trực tiếp tham gia hỗ trợ xây dựng hơn 700 căn nhà, huy động 3.159 lượt cán bộ, chiến sĩ với trên 4.000 ngày công, các đơn vị đã huy động cán bộ, chiến sĩ, đóng góp và kêu gọi các nguồn lực hỗ trợ Nhân dân gần 01 tỷ đồng để mua sắm giường, tủ, chăn, màn và các vật dụng cần thiết cho đời sống sinh hoạt của các hộ dân khi về nhà mới.

Cùng với những thay đổi về sinh kế và điều kiện sống, chuyển đổi số cũng đã bắt đầu đi vào những bản làng vùng biên. Từ Mô hình “BĐBP - Đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới” của lực lượng BĐBP, BĐBP tỉnh Lai Châu đã triển khai 06 mô hình gắn công tác dân vận với chuyển đổi số. Các tổ tư vấn, tổ hỗ trợ số của BĐBP trực tiếp “đi từng bản, đến từng lán nương, hướng dẫn từng người”, giúp bà con sử dụng điện thoại thông minh, VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử, Internet và các nền tảng số an toàn.

BĐBP tỉnh đã vận động, kêu gọi cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng BĐBP tỉnh và các nguồn lực tặng Nhân dân khu vực biên giới 1.616 điện thoại thông minh (trị giá 2 triệu đồng/01 điện thoại, tổng trị giá hơn 3 tỷ đồng); phối hợp với Viettel Lai Châu tặng kèm 1.616 sim 4G. Từ trồng lúa nước hai vụ, Sâm Lai Châu đến VNeID và sàn thương mại điện tử là một khoảng thay đổi rất dài trong đời sống của đồng bào vùng biên, nơi công nghệ đang dần trở thành phương tiện để người dân kết nối thị trường, quảng bá sản phẩm và giải quyết những công việc hàng ngày.

Theo Đại tá Trương Minh Đức, sự thay đổi đáng quý nhất ở vùng biên Lai Châu không chỉ nằm ở đời sống vật chất mà còn ở nhận thức, niềm tin và trách nhiệm của người dân đối với biên giới. Khi đời sống từng bước ổn định, bà con càng tin tưởng, gắn bó với cấp ủy, chính quyền và Bộ đội Biên phòng; chủ động cung cấp thông tin, tham gia cùng cán bộ, chiến sĩ quản lý, bảo vệ đường biên, mốc giới, giữ gìn an ninh, trật tự ngay từ thôn, bản.

“Gìn giữ và bảo vệ hoà bình là sứ mệnh của người lính. Hòa bình là để người dân được yên tâm bám đất, bám bản, lao động sản xuất; để trẻ em được đến trường; để những bản làng hai bên biên giới cùng phát triển và những ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn có điều kiện trở thành hiện thực. Đó cũng là ước mơ lớn nhất của những người lính biên phòng chúng tôi”, Đại tá Trương Minh Đức khẳng định.

TS. Nguyễn Thị Việt Nga trên nghị trường Quốc hội. Ảnh: Quang Vinh

TS. Nguyễn Thị Việt Nga trên nghị trường Quốc hội. Ảnh: Quang Vinh

TS. Nguyễn Thị Việt Nga: Để mỗi người có thêm một cơ hội phát triển

Khi đời sống thay đổi, mong muốn của người dân cũng thay đổi theo. TS. Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH Hải Phòng cho rằng nếu trước đây mong muốn lớn nhất của nhiều người có thể là có việc làm, có thu nhập ổn định, được bảo đảm những nhu cầu thiết yếu, thì hôm nay người dân còn muốn được phát triển năng lực, được sáng tạo, được làm giàu chính đáng, được tiếp cận những dịch vụ công có chất lượng và sống trong một môi trường công bằng, minh bạch, an toàn. Vì vậy, thể chế cũng phải chuyển động tương ứng.

Theo bà Nga, yêu cầu hiện nay không dừng ở một thể chế “quản lý được”, mà phải kiến tạo được cơ hội phát triển, bảo đảm tốt hơn quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản và quyền chủ động sáng tạo của người dân, doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật. Nguyên tắc những gì pháp luật không cấm thì người dân, doanh nghiệp được quyền làm cần được thực hiện thực chất; cơ quan quản lý nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy “cho phép” sang xác lập những chuẩn mực rõ ràng, minh bạch để người dân biết mình được làm gì, chịu trách nhiệm đến đâu và có thể yên tâm đầu tư dài hạn.

“Nhiều khi nguồn lực trong xã hội không thiếu, ý tưởng không thiếu, khát vọng làm giàu cũng không thiếu; điều còn thiếu chính là một không gian thể chế đủ rộng và đủ an toàn để những nguồn lực ấy được chuyển hóa thành hành động”, bà Nga nói.

Một người muốn khởi nghiệp sẽ khó dành toàn bộ sức lực cho ý tưởng của mình nếu phải mất quá nhiều thời gian xin giấy phép; một doanh nghiệp sẽ dè dặt mở rộng sản xuất nếu những quy định liên quan có thể được hiểu theo nhiều cách. Bởi vậy, theo bà, cải cách thủ tục hành chính phải đi xa hơn việc rút ngắn một vài ngày xử lý hay số hóa một vài biểu mẫu. Thủ tục không còn thực sự cần thiết cho quản lý nhà nước thì nên mạnh dạn bỏ hay dữ liệu Nhà nước đã có thì không nên yêu cầu người dân khai báo lại.

Thể chế cũng phải khuyến khích đổi mới và chấp nhận những rủi ro hợp lý của phát triển, nhất là trong khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và những mô hình kinh doanh mới. Cần có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, xác lập rõ “hành lang an toàn”, phân biệt rủi ro phát sinh trong quá trình đổi mới, hành động vì lợi ích chung với hành vi cố ý vi phạm pháp luật, vụ lợi hay tham nhũng.

Điều bà Nga đặc biệt nhấn mạnh là cơ hội phát triển phải đến được với cả những người sinh ra ở nông thôn, vùng khó khăn, người có thu nhập thấp và những nhóm yếu thế, bởi một thể chế tốt không thể chỉ thuận lợi cho những người đã có vốn, có tri thức và có lợi thế.

“Mục tiêu cuối cùng của đổi mới thể chế, theo tôi, không phải để có thêm bao nhiêu văn bản pháp luật, mà là để mỗi người dân có thêm bao nhiêu cơ hội phát triển và mỗi ý tưởng tốt có thêm bao nhiêu khả năng trở thành giá trị cho xã hội”, bà Nguyễn Thị Việt Nga khẳng định.

Từ những quyết sách vừa được Quốc hội khoá XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, với 15 luật và 6 nghị quyết quy phạm pháp luật, bà Nga nhìn thấy hướng tập trung trực tiếp vào tháo gỡ chồng chéo, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và khơi thông nguồn lực.

Bà Nga cho rằng luật và nghị quyết mới chỉ là bước đầu, còn điều quyết định nằm ở chất lượng thực thi. Sau Kỳ họp, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương cần khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn, rà soát các thủ tục liên quan và tránh tình trạng luật đã mở nhưng cấp thực thi lại đặt thêm điều kiện. Khi thể chế thực sự trở thành điểm tựa, nguồn lực được giải phóng sẽ không chỉ là vốn, đất đai hay những dự án đang chờ được tháo gỡ mà còn là khát vọng vươn lên, năng lực sáng tạo và mong muốn làm giàu chính đáng đang có trong mỗi người dân.

TS.Trần Hải Linh.

TS.Trần Hải Linh.

TS. Trần Hải Linh: Từ “Made in Vietnam” đến “Created by Vietnam”

Hơn 20 năm sinh sống, học tập, làm việc tại Hàn Quốc và trực tiếp tham gia nhiều hoạt động kết nối doanh nghiệp, đầu tư, khoa học-công nghệ giữa hai nước, TS. Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), Chủ tịch sáng lập Hội chuyên gia, trí thức Việt Nam - Hàn Quốc (VKEIA) cảm nhận rất rõ cách bạn bè, đối tác quốc tế nhìn về Việt Nam đã thay đổi.

Khoảng hai thập niên trước, trong những cuộc trao đổi với đối tác Hàn Quốc, Việt Nam thường được nhắc tới như một đất nước giàu tiềm năng, có nguồn nhân lực trẻ, chi phí cạnh tranh và một thị trường đang phát triển. Ngày nay, cách đặt vấn đề đã khác.

“Đối tác quốc tế ngày nay không chỉ hỏi ‘Việt Nam có gì để đầu tư?’, mà ngày càng quan tâm ‘Việt Nam có thể cùng chúng tôi phát triển lĩnh vực nào?’. Sự thay đổi trong cách đặt câu hỏi ấy rất quan trọng. Nó phản ánh việc Việt Nam đang từng bước chuyển từ vị trí tiếp nhận vốn, công nghệ sang vị trí đối tác cùng kiến tạo giá trị”, ông Trần Hải Linh chia sẻ.

Trong những cuộc làm việc gần đây với doanh nghiệp Hàn Quốc, câu chuyện không còn chỉ xoay quanh nhà máy, lao động hay ưu đãi đầu tư. Các đối tác quan tâm ngày càng nhiều đến bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, R&D, công nghệ sinh học, năng lượng xanh, logistics thông minh, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo ông Linh, sự dịch chuyển ấy cho thấy vị trí của Việt Nam trong tư duy chiến lược của nhà đầu tư quốc tế đang được nâng lên.

Ông cũng nhìn thấy một thay đổi rõ rệt ở chính những người Việt Nam đang sống và làm việc bên ngoài đất nước. Ngày càng có nhiều kỹ sư, nhà khoa học, doanh nhân và chuyên gia Việt Nam làm việc trong các tập đoàn, trường đại học, viện nghiên cứu lớn của Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác, góp phần tạo dựng hình ảnh một Việt Nam trí tuệ, năng động, trách nhiệm và có khả năng hội nhập.

“Tôi vẫn thường nói rằng, khi vị thế của Tổ quốc được nâng lên thì vị thế của mỗi người Việt Nam ở nước ngoài cũng được nâng lên. Và chiều ngược lại cũng đúng: mỗi doanh nhân làm ăn uy tín, mỗi nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, mỗi người Việt sống có trách nhiệm ở nước sở tại đều đang góp một phần nhỏ vào ‘tài sản uy tín’ của quốc gia”, ông Trần Hải Linh khẳng định.

Theo ông, vị thế mới cũng đồng nghĩa với những kỳ vọng mới. Đối tác quốc tế kỳ vọng Việt Nam tiếp tục cải thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách, đồng thời xây dựng được những doanh nghiệp Việt đủ sức tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu phải khái quát sự thay đổi trong một câu, ông cho rằng Việt Nam đang chuyển từ một đất nước “được thế giới biết đến và quan tâm” sang một quốc gia “được tin cậy, được lựa chọn và được kỳ vọng cùng kiến tạo tương lai”.

Sau 40 năm Đổi mới, vị thế ấy cũng khiến ước mong của một người Việt Nam sống lâu năm ở nước ngoài như ông đi xa hơn. Ông không chỉ mong có thêm nhiều sản phẩm Việt Nam hiện diện trên thế giới, mà mong thương hiệu, trí tuệ và giá trị Việt Nam có vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam đã đi qua một giai đoạn mà lợi thế chủ yếu được nhắc tới bằng lao động, chi phí sản xuất hay khả năng gia công. Trong giai đoạn phát triển mới, ông mong doanh nghiệp Việt từng bước chuyển từ “Made in Vietnam” sang “Created by Vietnam” - có những công nghệ do người Việt làm chủ, những sản phẩm do người Việt sáng tạo và những thương hiệu Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Sống nhiều năm tại Hàn Quốc, ông Trần Hải Linh nhìn thấy một chiếc ô tô, một sản phẩm công nghệ, một bộ phim hay một thương hiệu mỹ phẩm cũng có thể mang hình ảnh của một đất nước đi khắp thế giới. Ông mong Việt Nam rồi cũng có ngày càng nhiều thương hiệu như thế, để khi xuất hiện tại Seoul, Tokyo, New York, Paris hay bất cứ thị trường lớn nào, người tiêu dùng có thể nhận ra phía sau sản phẩm ấy là một Việt Nam chất lượng, sáng tạo, đáng tin cậy và có trách nhiệm.

“Nếu thế hệ doanh nhân đi trước đã đưa hàng hóa Việt Nam ra thế giới, tôi mong thế hệ tiếp theo sẽ đưa công nghệ Việt, nền tảng Việt, sở hữu trí tuệ Việt và những thương hiệu toàn cầu mang bản sắc Việt Nam ra thế giới”, TS. Trần Hải Linh bày tỏ mong muốn của mình.

TS. Trịnh Xuân Mạnh.

TS. Trịnh Xuân Mạnh.

TS. Trịnh Xuân Mạnh: Làm chủ tri thức để đi tới tương lai

Với TS. Trịnh Xuân Mạnh, người đang công tác tại Khoa Khí tượng Thủy văn và Viện Nghiên cứu Tài nguyên và Biến đổi khí hậu (thuộc Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội), câu chuyện về ước mơ của một nhà khoa học trẻ không bắt đầu từ việc thế hệ hôm nay giỏi hơn hay có khát vọng lớn hơn thế hệ đi trước. Ông nhìn khoa học như một quá trình kế thừa.

“Khoa học luôn vận động. Những người đi trước đã đặt nền móng về tri thức, phương pháp và để lại rất nhiều thành quả để thế hệ sau tiếp tục. Chúng tôi may mắn được tiếp tục công việc của mình trên nền tảng ấy”, ông Mạnh chia sẻ.

TS. Trịnh Xuân Mạnh là người tham gia nghiên cứu khoa học về khí tượng thủy văn, ứng dụng GIS trong ngành nước, vận hành tối ưu hồ chứa thủy lợi/thủy điện mùa kiệt, đánh giá thiên tai tổ hợp (lũ quét, sạt lở đất) và các vấn đề biến đổi khí hậu… Thế hệ của ông có điều kiện tiếp cận thiết bị tiên tiến hơn, hạ tầng nghiên cứu tốt hơn, công nghệ số, dữ liệu lớn và mạng lưới hợp tác quốc tế rộng hơn. Những điều kiện ấy cho phép người làm khoa học nghĩ tới việc làm chủ các công nghệ mới, tạo ra những sản phẩm có giá trị và trực tiếp giải quyết những bài toán mà thực tiễn phát triển đang đặt ra.

Từ một ý tưởng khoa học đến một kết quả nghiên cứu có thể đi vào cuộc sống vẫn còn nhiều công việc phải làm. Ông Mạnh đánh giá cao những cải cách mang tính đột phá thời gian gần đây nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho khoa học, tháo gỡ những rào cản về nguồn lực, cơ chế, giấy tờ và thủ tục pháp lý.

“Chỉ khi được cởi trói bởi những quy định, thủ tục mang tính hình thức khoa học mới thực sự có thể vươn mình và bứt phá”, TS Mạnh khẳng định.

Theo TS. Trịnh Xuân Mạnh, những thay đổi ấy mới ở giai đoạn đầu và cần thời gian để đi vào thực tế. Một môi trường nghiên cứu tốt không chỉ là phòng thí nghiệm hiện đại hay thiết bị tiên tiến. Người làm khoa học cần nguồn kinh phí phù hợp, những đặt hàng xuất phát từ các vấn đề thực tế của đất nước, cơ chế quản lý và giám sát hợp lý, khả năng chia sẻ dữ liệu và một môi trường biết chấp nhận rủi ro của nghiên cứu.

Cả khoa học ứng dụng và khoa học cơ bản đều cần được quan tâm, bởi không phải công trình khoa học nào cũng có thể ngay lập tức cho ra một sản phẩm có thể cân, đo, đong, đếm; có những nghiên cứu cần nhiều năm mới tạo nên nền tảng cho một bước tiến khác.

Và điều người làm khoa học trẻ như ông mong muốn cuối cùng lại khá giản dị: được dành nhiều thời gian nhất có thể cho chuyên môn: “Nhà khoa học trẻ có thực lực cần một môi trường làm việc thông thoáng, không chịu những áp lực hành chính, giấy tờ không cần thiết, có thu nhập đủ để toàn tâm, toàn ý dành thời gian, niềm đam mê và nhiệt huyết cho nghiên cứu, sáng tạo”.

Sinh viên Lai Trung Hiếu.

Sinh viên Lai Trung Hiếu.

Sinh viên Lai Trung Hiếu: Hạnh phúc vì được sống trong hòa bình

Lai Trung Hiếu, sinh viên lớp Kỹ thuật Hàng không 01-K69, Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội, năm nay 20 tuổi. Ở tuổi mà những người thuộc thế hệ ông Nguyễn Túc từng mơ về một đất nước độc lập, tự do, Hiếu đang học để trở thành một kỹ sư hàng không.

Điều Hiếu thấy may mắn nhất lại chính là thứ mà thế hệ mình được nhận từ khi sinh ra: được sống trong hòa bình, được học tập và được lựa chọn con đường mình muốn đi. Với chàng sinh viên năm thứ ba, hòa bình rất cụ thể, là mỗi sáng có thể đến giảng đường, học ngành mình yêu thích, nghĩ về công việc sẽ làm sau khi tốt nghiệp và tự hình dung tương lai của mình.

“Em học Kỹ thuật Hàng không nên ước mơ lớn nhất là sau khi ra trường sẽ trở thành một kỹ sư giỏi, được làm việc trong ngành hàng không Việt Nam. Em biết để làm được điều đó còn cả một chặng đường dài phía trước và bản thân phải học hỏi, cố gắng rất nhiều. Nhưng em tin mình đang có những điều kiện mà các thế hệ đi trước từng mong muốn dành cho con cháu: được sống trong hòa bình, được học tập và có cơ hội lựa chọn con đường mình muốn đi. Em biết ơn vì điều đó”.

Khi được hỏi hình dung Việt Nam sẽ như thế nào lúc mình 40 tuổi, Hiếu nghĩ tới một đất nước phát triển, có nền khoa học-công nghệ mạnh, có những công trình, sản phẩm công nghệ do chính người Việt Nam nghiên cứu và làm chủ.

“Riêng với ngành em đang học, em mong hàng không Việt Nam sẽ ngày càng hiện đại và người Việt có thể tham gia sâu hơn vào việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những sản phẩm của ngành hàng không”, Hiếu bày tỏ mong ước.

 Trung Hiếu và các bạn tham gia hoạt động tình nguyện tại xã Tràng Xá, tỉnh Thái Nguyên tháng 7/2025.

Trung Hiếu và các bạn tham gia hoạt động tình nguyện tại xã Tràng Xá, tỉnh Thái Nguyên tháng 7/2025.

Chàng trai 20 tuổi mong đến lúc ấy, người Việt Nam có cuộc sống ngày càng tốt hơn và những người trẻ có nhiều cơ hội học tập, sáng tạo, theo đuổi điều mình yêu thích. Hai mươi năm là một khoảng thời gian đủ dài để một sinh viên hôm nay bước vào tuổi 40, cũng đủ dài để những điều tưởng như còn rất xa ở hiện tại có thể trở thành một phần của đời sống nếu mỗi người đều làm tốt phần việc của mình.

“Đến năm 40 tuổi, em không biết mình sẽ đi được bao xa. Nhưng em hy vọng khi nhìn lại, em có thể tự hào rằng những gì mình học và công việc mình làm đã đóng góp được một phần, dù nhỏ, cho đất nước. Gia đình và đất nước đã cho thế hệ chúng em một nơi bình yên để lớn lên, một điểm tựa để bắt đầu. Phần còn lại là trách nhiệm của chúng em: phải học tập, làm việc thật tốt để có thể bay cao, bay xa hơn”, sinh viên Lai Trung Hiếu khẳng định.

Từ cậu bé 8 tuổi Nguyễn Túc chép lại bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 đến chàng sinh viên hàng không 20 tuổi Lai Trung Hiếu hôm nay là hành trình của hơn tám thập niên đất nước đi qua chiến tranh, gian khó để có được hòa bình, đổi mới và phát triển. Giữa hai thế hệ là biết bao đổi thay, nhưng cũng có một điều được tiếp nối rất tự nhiên: thế hệ đi trước đã dành cả cuộc đời cho những điều mình tin tưởng và mong ước, để những người trẻ hôm nay có thể bắt đầu từ một điểm xa hơn và nghĩ về những điều lớn hơn. 81 năm sau mùa Thu Độc lập, nhìn vào những ước mơ của người Việt Nam hôm nay cũng có thể thấy đất nước đã đi được một chặng đường dài. Có những điều cha ông từng ao ước nay đã trở thành cuộc sống bình thường của con cháu; và từ cuộc sống bình thường ấy, một thế hệ mới lại đang nghĩ tới những khát vọng lớn. Để rồi từ những gì hôm nay chúng ta vun đắp, những thế hệ mai sau sẽ lại có thêm những ước mơ mới, lớn hơn và xa hơn.

Anh Vũ - Hoàng Yến - Việt Thắng - Thái Nhung - Đạt Lê

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/dat-nuoc-di-cung-nhung-uoc-mo.html