Dấu ấn thương nghiệp trong tranh Đông Hồ

Từ bức 'Sĩ Nông Công Thương', tranh Đông Hồ gửi gắm một mật ngữ sâu xa: thương nghiệp mới là mạch sống giúp nghề tranh trường tồn...

Tháng 12/2025, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO. Đó là một tin vui với tranh Đông Hồ, một vật phẩm gắn liền với văn hóa ăn Tết Nguyên Đán của người Việt.

PHI THƯƠNG BẤT TRƯỜNG TỒN

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của làng tranh Đông Hồ là bức Sĩ Nông Công Thương, mô tả 4 trụ cột của xã hội Việt Nam truyền thống. Đó cũng là 4 ngành nghề đem lại sự no ấm của khái niệm “thiên hạ thái bình”.

Ở đó, Sĩ đứng đầu bởi giáo dục tạo ra tầng lớp Sĩ, là hiền tài nguyên khí của nước nhà. Nông là nghề nông, là ngành nông nghiệp của nền văn minh lúa nước đã song hành cùng người Việt suốt 4000 năm lịch sử. Nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó tạo ra lúa gạo cho bữa cơm thường nhật. Hết gạo, mất mùa là những cơn ác mộng thường trực như chiến tranh, địch họa.

Công ở đây không phải là ngành công nghiệp mà chỉ là nghề thủ công của người Việt như nghề mộc, đúc đồng, đan lát, làm giấy, làm gốm… Những làng nghề của Việt Nam chính là không gian sinh hoạt của nghề thủ công, tạo ra nền tảng văn minh vật chất của người Việt.

Cuối cùng là Thương, được mô tả ước lệ là một người đàn bà ngồi trên thương thuyền với ý nghĩa thương nghiệp hồi xưa chỉ là chuyện của đàn bà, phụ nữ và di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác để buôn bán hàng hóa. Và trong trật tự xã hội, Thương đứng cuối cùng, giống như tranh Đông Hồ đã minh họa.

Nhưng chúng ta cần nhìn vào mật ngữ để thấy rằng, Thương chính là yếu tố được đề cao nhất trong tranh Đông Hồ. Bởi một điều rất đơn giản, nghề làm tranh Đông Hồ vốn thuộc trụ cột Công, nhưng để nghề có thể nuôi sống con người, có thể tồn tại và phát triển suốt hàng trăm năm qua thì cần phải Thương.

Trong một xã hội trọng nông khinh thương suốt hàng nghìn năm, tranh Đông Hồ không thể cất cao lời ca ngợi trụ cột Thương một cách chính đáng, nhưng với bức tranh Sĩ Nông Công Thương, các nghệ nhân đã xác nhận vai trò của 4 trụ cột này trong xã hội, mà hễ thiếu bất cứ trụ cột nào, lập tức xã tắc nghiêng đổ ngay tức thì.

Bởi dù “khinh thương” đến thế nào, người Việt cũng đã thừa nhận rằng “phi thương bất phú”, không kinh doanh buôn bán thì không thể giàu có sung túc được. Và giấc mơ giàu có mới là giấc mơ lớn, thường trực của đại bộ phận dân chúng Việt Nam.

Do đó, đỉnh cao của trụ cột Sĩ trong dòng tranh Đông Hồ là bức “Vinh quy bái tổ”, còn của trụ cột Nông là bức “Lão nông tri điền”. Song bao trùm lên tất cả là cặp tranh “Vinh Hoa - Phú Quý”, 2 ước mơ, 2 khát vọng lớn nhất của người Việt và cách phổ biến nhất để đạt được là buôn bán.

Học tập, khoa cử thành công cũng đem đến “Vinh Hoa - Phú Quý”, nhưng nó chỉ dành cho một số ít người có năng lực đặc biệt trong xã hội. Còn thương mại, thương nghiệp là cách dễ dàng nhất, thuận tiện nhất để tiếp cận cặp giá trị này. Còn với 2 trụ cột Nông - Công, bắt buộc phải thông qua Thương mới có được “Vinh Hoa - Phú Quý”.

Rõ ràng, chỉ có các nghệ nhân làm tranh Đông Hồ mới biết giá trị của trụ cột Thương trong sự tồn vong của nghề. Hàng trăm năm qua, nghề làm tranh sở dĩ nuôi sống cả làng là nhờ lực lượng buôn bán tranh, cứ gần tết lại cập bến sông chất tranh lên thuyền rồi chở đi bán Nam Bắc Đông Đoài.

Nhờ người buôn tranh, bán tranh mà tranh Đông Hồ tạo ra lợi nhuận và thị trường tiêu thụ tranh. Tranh Đông Hồ trở thành tranh tết, một mặt hàng chiến lược không thể không mua mỗi khi xuân về. Nhờ thế mà làng tranh Đông Hồ sống khỏe suốt vài trăm năm qua.

Thế nhưng, đã có lúc làng tranh Đông Hồ suy tàn, hầu như cả làng chuyển sang nghề làm hàng mã, chỉ còn lác đác vài nhà giữ nghiệp xưa. Đó là bởi việc buôn bán tranh không còn thuận lợi, sức cạnh tranh với các sản phẩm mới yếu kém, lời lãi không đáng bao nhiêu. Thế nên, tranh Đông Hồ lâm nguy.

Do đó, đến tháng 12/2025, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đã được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Có nghĩa là, nếu không kịp thời tạo được dòng chảy thương mại cho tranh Đông Hồ, thì dòng tranh này sẽ bị tuyệt chủng.

MỘT VIÊN NGỌC CỦA TẾT VIỆT

Có thể nói, tranh Đông Hồ là một viên ngọc quý trong văn hóa ăn Tết cổ truyền của người Việt. Cái tờ tranh tết mỏng manh, thô sần sợi dó và mảnh điệp, ấy là lá cờ báo tiệp xuân sang.

Tờ tranh ấy được vỗ nét từ bản khắc gỗ, rồi trau chuốt từng sắc màu bởi bàn tay của những người dân thôn dã bất kể trẻ già, nam nữ có sức biểu tượng thật mạnh mẽ cho sức xuân bắt đầu vào chu kỳ cương mãnh của “xuân sinh, hạ trưởng”.

Bởi cuối năm, người Việt mua vôi để quét bay những gì cũ kỹ, ẩm mốc, hoen ố, tạo một không gian mới mẻ. Những tờ tranh cũ đã phai màu sau vòng quay 365 ngày được bóc đi, rồi thay thế bằng những tờ tranh tết mới tạo ra một vòng lặp thời gian vô tận.

Ước mơ của con người vốn thế, chẳng cao sang tốt vời gì cả, chỉ là một nguyện cầu cho một năm mới no đủ và bình an. Vốn dĩ thế mà, an cư sẽ lạc nghiệp, no ấm tạo cảnh thái bình. Cần gì hơn thế đâu, cứ là bức tranh gà xinh, lợn béo, nhi đồng hớn hở bế vịt, ôm ngan là đủ thỏa mộng rồi.

Chỉ cần vài bức tranh làng Hồ sặc sỡ với những gam màu chắt lọc từ đất, cát, đá, nước, lá cây… dán trên tường vôi trắng cũng đủ làm bừng sáng lên một không gian tết, để rồi vui buồn đồng cam cộng khổ cùng gia chủ suốt một năm, cho đến ngày được thay thế bằng một niềm hy vọng mới mẻ mà muôn năm cũ.

Trên tờ tranh đó, những màu sắc nguyên thủy chuyển biến theo ánh sáng. Màu vàng của hoa hòe ấy là sự no đủ, màu vàng tươi như nắng hàm ý mùa vàng bội thu, màu xanh là hình dung của lũy tre làng, màu đỏ gấc như yếm thắm, màu nhiễu tím như thắt lưng, màu đen như váy lĩnh đi hội làng.

Tất cả đều là vật liệu có sẵn trong thiên nhiên mà cuộc đời của chúng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt từ thuở nào. Chúng phát ra ngôn ngữ dung dị của bản năng và tiềm thức và không biết bao lần làm hồn người bồi hồi trong kỷ niệm của ngày tết.

Hãy thử ngắm nhìn một bức tranh tết của làng Hồ, ta có thấy một cảm giác bình yên, thân thuộc và nhẹ nhõm khởi sinh không? Chẳng cần phải dùng đến một kỹ thuật tạo hình cao siêu để truyền tải những thông điệp bác học hàn lâm nhưng những tờ tranh tết đó vẫn tràn đầy sự thâm thúy của dân gian.

Chất liệu dân gian của làng xã Bắc bộ, của nền văn minh lúa nước cứ thấm đẫm trong từng tạo hình. Lợn, gà, vịt, ngan, mèo, chuột, trâu, ngựa, chim, cá ấy là “lục súc” của hệ sinh thái thôn quê. Lão nông, em bé, trai tráng, gái tơ, hay ông tiến sĩ vinh quy… ấy là những tế bào của làng xã. Tất cả đều quá quen thân.

Tên tranh của làng Đông Hồ chỉ đơn thuần là tranh tết, cho dù là nhìn cảnh mà đặt tên như “Đám cưới chuột”, “Hứng dừa”, “Đánh ghen”, “Chăn trâu thổi sáo”, “Đấu vật”, “Đánh đu” hay theo chủ đề gửi gắm niềm khát khao như “Vinh hoa - Phú quý”, “Lão nông tri điền”, “Tam dương khai thái”.

Do đó, thẩm mỹ của tranh Đông Hồ là thẩm mỹ của nghệ thuật dân gian, thiên về vẻ đẹp giản dị, chân thật, có khi phảng phất vẻ ngây thơ, vụng về. Sáng tạo nghệ thuật trong tranh tết Đông Hồ thể hiện tính dí dỏm, khung cảnh ấm cúng của tết Việt.

Dẫu cho xuất phát từ nền tảng văn hóa dân gian thô phác, mộc mạc nhưng tranh tết Đông Hồ vẫn biểu đạt triết lý phương Đông đầy trang trọng, xứng đáng với không khí thiêng liêng của ngày tết Nguyên Đán như thể đấy là một câu đối cung chúc ngày tết vậy.

Như ở cặp tranh “Đại Cát Nghinh Xuân - Đón Xuân Tốt Lành”, mỗi tờ tranh thể hiện một con gà đối xứng cả về hình thể, thế đứng, lông cánh, lông đuôi, một bên viết 2 chữ Đại Cát và một bên viết 2 chữ Nghinh Xuân bằng chữ Hán. Một lời nguyện cầu tốt lành.

“Tháng 12/2025, nghề làm tranh dân gian đông hồ đã được Unesco ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Có nghĩa là, nếu không kịp thời tạo được dòng chảy thương mại cho tranh đông hồ, thì dòng tranh này sẽ bị tuyệt chủng”.

Cũng là tranh gà, ở cặp tranh “Dạ Xướng Nhật Minh - Đêm Gáy Ngày Sáng” lại thể hiện một chú gà trống với đầy đủ 5 đức tính tốt của con người là Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín (thông qua hình ảnh mào - cánh - đuôi - lông mã - tiếng gáy), đứng ở tư thế co một chân lên theo thế “kim kê độc lập” rất oai phong.

Trên vế này của tranh có viết chữ “Dạ xướng ngũ canh hòa - đêm gáy năm canh đều đặn”. Trong khi đó, vế kia của tranh, vẫn chú gà đó ở tư thế quay trở lại, và viết chữ “Nhật minh tam tác thụy - Ngày mang tới ba điều lành”. Quả là một câu đối rất ý nghĩa xuất phát từ hành vi thường nhật của gà trống.

Đẹp và quý như thế, bây giờ, nhiệm vụ của chúng ta là tìm mọi cách giúp làng tranh Đông Hồ sống được với nghề, để ngày xuân còn phơi phới màu tranh tết. Và cách duy nhất để làm được điều đó là thương mại.

Chúng ta, thông qua những hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu tranh Đông Hồ ra thị trường thương mại điện tử rộng lớn toàn cầu. Khi tranh được tiêu thụ tốt, tự nhiên, làng tranh sẽ sống tốt và trường tồn cùng Tết cổ truyền Việt Nam.

Anmustang

Nguồn Thương Gia: https://thuonggiaonline.vn/dau-an-thuong-nghiep-trong-tranh-dong-ho-post568089.html