ĐBQH đề nghị miễn tiền sử dụng đất cho hộ nghèo, cận nghèo là người dân tộc thiểu số
Thảo luận về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) tại hội trường sáng 29/10, nhiều đại biểu đề nghị hoàn thiện chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu...
Cụ thể, đại biểu Hoàng Quốc Khánh (Đoàn Lai Châu) đề nghị miễn toàn bộ tiền sử dụng đất đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo là người dân tộc thiểu số khi chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở, thay vì chỉ áp dụng cơ chế miễn, giảm.

Đại biểu Hoàng Quốc Khánh (Đoàn Lai Châu). Ảnh: Media Quốc hội.
Theo đại biểu, các hộ nghèo, hộ cận nghèo có ít tích lũy, đời sống khó khăn nên ngay cả khoản tiền sử dụng đất ở mức vài triệu đồng cũng có thể trở thành gánh nặng. Trong khi đó, tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, giá đất thường thấp, diện tích chuyển mục đích sử dụng đất không lớn.
Đại biểu Phan Thị Mỹ Dung (Đoàn Tây Ninh) đề nghị rà soát quy định tại khoản 3 Điều 15 về hạn chế quyền chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho và thừa kế quyền sử dụng đất trong chính sách hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Dự thảo Luật quy định cá nhân thuộc đối tượng tại khoản này không được chuyển nhượng, góp vốn, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế cho người thuộc hàng thừa kế và là đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 15.
Theo đại biểu, quy định nhằm bảo đảm đất được hỗ trợ tiếp tục phục vụ mục tiêu an sinh xã hội, hạn chế tình trạng chuyển nhượng làm mất tư liệu sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống đồng bào. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, không nên cấm tuyệt đối việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Đại biểu Mỹ Dung phân tích, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khác với chuyển nhượng để thu lợi hoặc làm mất mục tiêu hỗ trợ ban đầu. Người được hỗ trợ có thể góp quyền sử dụng đất vào hợp tác xã, mô hình liên kết sản xuất hoặc dự án nông nghiệp chuyên canh để tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, nâng cao giá trị sử dụng đất, tạo việc làm và tăng thu nhập.

Đại biểu Phan Thị Mỹ Dung (Đoàn Tây Ninh). Ảnh: Media Quốc hội.
Trong bối cảnh Nhà nước khuyến khích liên kết đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, việc cấm hoàn toàn có thể hạn chế cơ hội phát triển kinh tế của chính đối tượng thụ hưởng chính sách.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cho phép góp vốn theo điều kiện chặt chẽ, có sự chấp thuận hoặc xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm soát nguy cơ lợi dụng chính sách, đồng thời tạo điều kiện để đất đai phát huy giá trị.
Cùng thảo luận, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) đề nghị bảo đảm đất bố trí cho đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ đủ diện tích mà còn phải có khả năng sử dụng thực tế, phù hợp điều kiện sản xuất và tạo sinh kế ổn định.
Theo đại biểu, hiệu quả sử dụng đất phụ thuộc vào nguồn nước, điều kiện giao thông, độ phì nhiêu, khả năng canh tác, khoảng cách đến nơi ở và cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất. Vì vậy, nếu chỉ đánh giá kết quả thực hiện chính sách bằng số mét vuông hoặc số hecta đất đã giao thì chưa phản ánh đầy đủ mục tiêu hỗ trợ sinh kế và ổn định đời sống của đồng bào.
Đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị bổ sung nguyên tắc đất bố trí sản xuất phải có khả năng sử dụng thực tế, tạo sinh kế và phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất, đặc điểm từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, cần xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc rà soát nhu cầu, lập kế hoạch và tạo lập quỹ đất phù hợp.

Đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long). Ảnh: Media Quốc hội.
Trường hợp địa phương thực sự không còn quỹ đất phù hợp, đại biểu đề nghị quy định rõ các phương án hỗ trợ thay thế như hỗ trợ nhà ở, chuyển đổi nghề nghiệp, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề hoặc các giải pháp sinh kế khác, bảo đảm người dân được hỗ trợ thiết thực và bền vững.
Đại biểu Thạch Phước Bình cũng đề nghị rà soát phạm vi địa bàn thụ hưởng chính sách. Theo đại biểu, khó khăn về đất ở, đất sản xuất, sinh kế và tiếp cận hạ tầng không chỉ tập trung ở miền núi. Các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo cũng gặp hạn chế về quỹ đất, điều kiện sản xuất, thiên tai, xâm nhập mặn, giao thông và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu nguyên tắc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tương đương cần được xem xét tiếp cận chính sách theo mức độ khó khăn thực tế, không chỉ phụ thuộc vào tên gọi hoặc phân loại địa lý.


