Để chính sách đặc thù đến đúng đối tượng

Thảo luận tại Tổ 3 (Thanh Hóa, Tây Ninh), chiều 4/8, về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, các ĐBQH đề xuất nên thu gọn phạm vi áp dụng của nghị quyết để giúp các cơ chế, chính sách được áp dụng đúng đối tượng và thể hiện rõ tính chất đặc thù.

Làm rõ trường hợp, điều kiện miễn trách nhiệm hình sự khi gặp rủi ro, gây thiệt hại

Thảo luận tại tổ, các ĐBQH cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện các chủ trương này trong khi các luật có liên quan, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự… chưa được sửa đổi, bổ sung.

ĐBQH Phạm Công Nguyên (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển

ĐBQH Phạm Công Nguyên (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển

Với trách nhiệm của cơ quan soạn thảo Nghị quyết, ĐBQH Phạm Công Nguyên đã làm rõ một số nội dung mà nhiều đại biểu còn băn khoăn về phạm vi điều chỉnh, các điều kiện loại trừ, miễn trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xác định hậu quả và áp dụng mức xử phạt hành chính đối với các trường hợp thuộc diện xử lý đặc thù.

Theo ĐBQH Phạm Công Nguyên, dự thảo Nghị quyết gồm 13 điều, được xây dựng bám sát chỉ đạo về đối tượng, phạm vi và các trường hợp xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong quá trình xây dựng, dự thảo Nghị quyết đã được Ủy ban Kinh tế và Tài chính thẩm tra kỹ lưỡng.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu cho biết, trên cơ sở ý kiến của các cơ quan của Quốc hội, cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh sửa dự thảo. Việc sửa đổi nhằm làm rõ rằng trường hợp được xem xét phải đồng thời đáp ứng đầy đủ ba điều kiện.

Điều kiện thứ nhất là không có hành vi tham nhũng. Điều kiện thứ hai là thực hiện vì lợi ích chung. Điều kiện thứ ba là hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Các ĐBQH tham gia phiên thảo thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Các ĐBQH tham gia phiên thảo thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Làm rõ thêm quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 6 về hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, đại biểu Phạm Công Nguyên cho biết, quy định này liên quan đến hai trường hợp.

Trường hợp thứ nhất, là hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gây thiệt hại mặc dù người thực hiện đã tuân thủ quy trình, quy định và áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa. Trường hợp này được xem xét loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của dự thảo Nghị quyết.

Trường hợp thứ hai, là việc thực hiện hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong điều kiện pháp luật chưa có quy định về quy trình thực hiện, dẫn đến phát sinh rủi ro, thiệt hại. Tuy nhiên, nếu kết quả đạt được mang lại giá trị kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đồng thời đáp ứng đầy đủ ba điều kiện được quy định thì cũng được xem xét miễn trách nhiệm hình sự.

Cần thu gọn phạm vi áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù

Góp ý về dự thảo Nghị quyết này, ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung (Tây Ninh) khẳng định, thời gian qua, Quốc hội đã ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong khi chưa thể sửa đổi toàn diện, kịp thời các luật có liên quan. Vì vậy, việc trình Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết tại một kỳ họp để sớm có hiệu lực thi hành là cần thiết.

ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung (Tây Ninh) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển

ĐBQH Phan Thị Mỹ Dung (Tây Ninh) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển

Tuy nhiên, qua nghiên cứu dự thảo Nghị quyết và Báo cáo thẩm tra, đại biểu cho rằng vẫn còn một số nội dung cần tiếp tục rà soát, làm rõ.

Trước hết, tại Điều 3, dự thảo Luật cần phân biệt rõ giữa nguyên tắc thực hiện với tiêu chí, điều kiện để một trường hợp được áp dụng cơ chế đặc thù. Nguyên tắc là những quy định chung, như bảo đảm chính xác, công bằng, khách quan, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật….; còn tiêu chí, điều kiện áp dụng phải được quy định cụ thể, rõ ràng hơn để xác định chính xác những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết. Do đó, đề nghị cần thiết bổ sung một điều quy định chung về tiêu chí, điều kiện được áp dụng cơ chế, chính sách này.

Cũng tại Khoản 1, khoản 3, Điều 3 này, đề nghị bỏ các cụm từ “thấu tình, đạt lý”, bỏ từ “khoan hồng”, bởi đây là Nghị quyết quy phạm pháp luật, quy định các nội dung từ thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng.

Các ĐBQH tham gia phiên thảo thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Các ĐBQH tham gia phiên thảo thảo luận tại Tổ 3. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu cũng đề nghị cân nhắc quy định về việc ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính và coi xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng. Qua rà soát các giải pháp cụ thể trong dự thảo, đại biểu nhận thấy nội dung chủ yếu liên quan đến xử lý hình sự và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, trong khi các biện pháp xử lý hành chính, dân sự không được thể hiện rõ. Vì vậy, cần xem xét sự thống nhất giữa nguyên tắc này với các biện pháp xử lý được quy định tại các điều khoản phía sau.

Tại Khoản 5, Điều 3, dự thảo quy định: không áp dụng các quy định trong Nghị quyết để xem xét lại các bản án hình sự, quyết định kỷ luật đã có hiệu lực pháp luật, trừ những trường hợp được áp dụng quy định có lợi tại Điều 10 và Điều 11. Đại biểu cho rằng phạm vi các trường hợp được áp dụng tại hai điều này rất rộng, đối tượng áp dụng là rất lớn.

Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu giới hạn phạm vi áp dụng theo thời gian hoặc theo từng nhóm vụ việc cụ thể. Nếu quy định quá rộng, cơ chế này sẽ không còn thể hiện rõ tính chất đặc thù vừa làm suy giảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật và phòng chống tham nhũng.

Đại biểu cũng băn khoăn về quy định tại Điều 9, Điều 10 theo đó thẩm quyền, trình tự, thủ tục được thực hiện theo pháp luật về tố tụng hình sự, thi hành án hình sự. Theo đại biểu, chính vì pháp luật hình sự, tố tụng hình , thi hành án hình sự hiện hành chưa có các quy định tương ứng nên mới cần xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù này. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát quy định để bảo đảm có trình tự, thủ tục phù hợp, đồng bộ và khả thi khi tổ chức thực hiện.

Đối với quy định giao Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, cấp tỉnh khẩn trương rà soát, lập danh sách báo cáo về các vụ án, các vụ việc vi phạm liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo….. (khoản 2, Điều 13) đại biểu đề nghị làm rõ báo cáo về cơ quan nào, và cơ quan chịu trách nhiệm lập danh sách các vụ việc thuộc khu vực kinh tế tư nhân.

Theo đại biểu, dự thảo quy định nhiều trường hợp khác nhau, như người đã có bản án nhưng chưa thi hành án; người đang chấp hành án; người đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ biện pháp khắc phục hậu quả. …. cần có quy định cụ thể để căn cứ xác định mức độ khắc phục hậu quả và tương quan giữa tỷ lệ khắc phục với việc miễn, giảm trách nhiệm hoặc thời hạn chấp hành hình phạt.

Các ĐBQH tỉnh Tây Ninh tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Các ĐBQH tỉnh Tây Ninh tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu cũng đề nghị cân nhắc quy định tạm dừng xử lý kỷ luật trong thời gian hai năm để chờ người vi phạm khắc phục hậu quả. Việc kéo dài thời gian xem xét kỷ luật có thể khiến cán bộ ở trong trạng thái chờ xử lý, ảnh hưởng đến quá trình công tác và thực hiện nhiệm vụ cũng như chưa rõ cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý của quy định thời hạn hai năm, nhất là khi thời gian áp dụng Nghị quyết này chỉ là ba năm.

Từ những vấn đề trên, đại biểu đề nghị nghiên cứu thu gọn phạm vi áp dụng của Nghị quyết. Đề xuất phạm vi điều chỉnh này cũng cần được đặt trong bối cảnh Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự và các luật liên quan cũng đang được dự thảo sửa đổi, (ví dụ như một số quy định của pháp luật hình sự hiện hành, trong đó có các mức tiền làm căn cứ xác định hành vi phạm tội, đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp và có thể được điều chỉnh trong quá trình sửa đổi các bộ luật này sắp tới đây).

Theo đại biểu, cơ chế chính sách đặc thù có thể tập trung vào các vi phạm liên quan đến ngân sách nhà nước, kinh tế nhà nước, hoạt động của cơ quan nhà nước và việc thực thi công vụ của những người có chức vụ, quyền hạn. Việc thu gọn phạm vi sẽ giúp cơ chế được áp dụng đúng đối tượng và thể hiện rõ được tính chất, đạt được mục tiêu, hiệu quả của cơ chế chính sách đặc thù.

Tham gia thảo luận tại Tổ, ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) cho rằng, lần sửa luật này không chỉ nhằm tháo gỡ vướng mắc mà phải tạo bước đột phá, đưa chính sách dầu khí từ tư duy “ưu đãi đầu tư” sang “cạnh tranh toàn cầu. Dự thảo Luật đã bổ sung nhiều chính sách mạnh như hạ thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thuế xuất khẩu dầu thô, nâng tỷ lệ thu hồi chi phí. Đây là bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nhà đầu tư quốc tế không lựa chọn điểm đến chỉ dựa trên mức ưu đãi tuyệt đối, mà sẽ đặt các chính sách của Việt Nam trong tương quan so sánh với Indonesia, Malaysia, Thái Lan, cùng với việc đánh giá mức độ rủi ro về địa chất và địa chính trị.

ĐBQH Phan Thị Thùy Linh (Thanh Hóa) phát biểu. Ảnh: Lâm Hiển

Đại biểu đề nghị thiết kế lại Điều 43 về Ưu đãi đầu tư đối với hoạt động nâng cao hệ số thu hồi dầu khí và Điều 44 về Ưu đãi đầu tư đối với phát triển, khai thác mỏ dầu khí cận biên theo hướng xây dựng cơ chế mở. Theo đó, Luật chỉ nên quy định các nguyên tắc, tiêu chí và biên độ trần - sàn; đồng thời cho phép đàm phán tỷ lệ chia sản phẩm, điều chỉnh linh hoạt theo sản lượng thực tế và biến động của giá dầu thế giới, thay vì duy trì một mức ưu đãi bất biến trong suốt vòng đời của mỏ.

Cùng với chính sách ưu đãi, đại biểu Phan Thị Thùy Linh đề nghị luật hóa thời hạn tối đa đối với từng bước thẩm định, phê duyệt và xác lập nguyên tắc một đầu mối trong giải quyết thủ tục. Đại biểu nhấn mạnh, yếu tố thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cơ hội đầu tư trong lĩnh vực dầu khí. Nếu thủ tục kéo dài qua nhiều cấp, nhiều ngành thì dù chính sách ưu đãi có hấp dẫn đến đâu cũng có thể mất đi ý nghĩa.

Đào Cảnh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/de-chinh-sach-dac-thu-den-dung-doi-tuong-10426086.html