Đề nghị quy định thời hạn ưu đãi thuế tối đa 5 năm đối với dự án du lịch

Đại biểu Lê Hoàng Anh (Gia Lai) đề nghị quy định “cửa sổ” 5 năm khi ưu đãi thuế TNDN cho các dự án du lịch, chỉ áp dụng cho dự án được chấp thuận trong giai đoạn 2027-2031, thời gian hưởng tính theo Luật Thuế TNDN và bỏ quy định áp dụng cho dự án đã được chấp thuận trước đó.

Xác định rõ điều kiện và thời hạn ưu đãi

Thảo luận về Dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cho biết, dự thảo Nghị quyết quy định ba loại dự án gồm: dự án chất lượng cao, dự án động lực và dự án động lực mang tính chiến lược. Chính phủ cần tiếp tục làm rõ cơ sở chính sách, sự cần thiết; đồng thời đánh giá hiệu quả dự kiến tương xứng với phần ưu đãi tăng thêm.

Trường hợp tiếp tục đề xuất, cần đánh giá tác động ngân sách, xác định rõ điều kiện và thời hạn ưu đãi để Quốc hội có đủ cơ sở xem xét, quyết định. Việc được hưởng và tiếp tục hưởng ưu đãi cần gắn với tiến độ, kết quả đưa chính sách, các hạng mục du lịch vào hoạt động, có chỉ tiêu kiểm chứng; đồng thời cụ thể hóa trách nhiệm hậu kiểm...

 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.

Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.

Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đề nghị quy định nguyên tắc giao Chính phủ xác định giá trị các hạng mục du lịch trong tổng mức đầu tư của dự án. Bởi trên thực tiễn, việc lượng hóa giá trị hạng mục du lịch trong cơ cấu tổng vốn đầu tư là vấn đề lớn, có liên quan trực tiếp đến điều kiện được hưởng chính sách. Vì vậy, cần có tiêu chí rõ ràng để xác định các dự án, tránh trường hợp phần đầu tư cho du lịch không đáp ứng yêu cầu nhưng dự án vẫn được hưởng chính sách; đồng thời giao Chính phủ chịu trách nhiệm bảo đảm tỷ trọng, cơ cấu các hạng mục du lịch trong dự án được hưởng chính sách.

Bên cạnh các dự án có quy mô vốn lớn, Phó chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị nghiên cứu chính sách "đậm nét hơn" đối với những dự án có giá trị khai thác và hiệu quả đầu tư cao, như du lịch cộng đồng, du lịch gắn với giá trị di sản văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực và chăm sóc sức khỏe. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, nhiều việc làm bền vững và đặc biệt không làm mất tài nguyên.

Ngoài ra, Phó chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ rà soát, bổ sung kịch bản về số lượng dự án theo từng nhóm; mức giảm thu thuế, tiền thuê đất; nhu cầu chi theo từng năm, từng cấp ngân sách, kể cả tác động của các ưu đãi tiếp tục được áp dụng sau khi Nghị quyết hết hiệu lực. Đồng thời, cần dự báo có căn cứ nguồn thu tăng thêm từ du lịch, phù hợp với thời điểm phát sinh để xác định phương án cân đối.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, hồ sơ dự thảo Nghị quyết trình Quốc hội chưa lượng hóa rõ quy mô và các chính sách ưu đãi được đề xuất, ngân sách sẽ giảm thu bao nhiêu từ tiền thuê đất, thuế.  Do đó, hồ sơ dự án Nghị quyết cần đánh giá quy mô nguồn lực ngân sách phải đầu tư, mức giảm thu từ các chính sách miễn, giảm thuế, tiền thuê đất và giá trị tăng thêm dự kiến. Nếu không xác định được phần giảm thu và phần giá trị tăng thêm, việc đánh giá tác động của Nghị quyết vẫn chưa đầy đủ.

Đại biểu Vũ Tiến Dũng (đoàn Thanh Hóa) cũng đề nghị rà soát các tiêu chí phân loại dự án theo hướng cụ thể, định lượng, khả thi; làm rõ căn cứ xác định quy mô vốn đầu tư tối thiểu và tỷ lệ vốn đầu tư dành cho du lịch, tránh quy định điều kiện quá cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước và hạn chế khả năng tiếp cận chính sách của các mô hình du lịch quy mô vừa và nhỏ.

Về các dự án du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái và du lịch làng nghề truyền thống…, đại biểu Vũ Tiến Dũng đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu thiết kế cơ chế, chính sách riêng, phù hợp với đặc thù của từng loại hình. Đây là những loại hình du lịch dựa trên tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan nông thôn, giá trị văn hóa, nghề truyền thống và tri thức bản địa; có lợi thế trong tạo việc làm tại chỗ, đa dạng hóa sinh kế, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Tuy nhiên, nếu áp dụng tiêu chí ưu đãi chủ yếu dựa vào quy mô vốn, diện tích đất và mức độ đầu tư xây dựng thì các mô hình do hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác và cộng đồng dân cư tổ chức thực hiện sẽ khó tiếp cận chính sách. Vì vậy, theo đại biểu Vũ Tiến Dũng, cần quy định tiêu chí, điều kiện phù hợp, trong đó coi trọng mức độ tham gia của người dân, khả năng tạo việc làm và tăng thu nhập tại địa phương, giá trị bảo tồn văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa và hiệu quả bảo vệ môi trường. Đặc biệt, phải xác định cộng đồng dân cư là chủ thể thực sự của quá trình phát triển du lịch, chứ không chỉ là đối tượng được hưởng lợi.

Cần cơ chế phòng ngừa trục lợi ưu đãi thuế

 Đại biểu Lê Hoàng Anh.

Đại biểu Lê Hoàng Anh.

Nêu quan điểm về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch, đại biểu Lê Hoàng Anh (đoàn Gia Lai) cho rằng, toàn bộ sức nặng tài khóa của dự thảo Nghị quyết với Điều 4, 5, 6 và khoản 1 Điều 7 lại dồn vào ưu đãi thuế, đất cho dự án từ 3.000 đến 30.000 tỷ đồng. Còn những nút thắt thật thì chỉ dừng ở nguyên tắc, nhắc lại luật hoặc giao Chính phủ.

Do đó, đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị cơ quan soạn thảo cân đối lại trọng tâm theo đúng yêu cầu “khu trú, đột phá, không dàn trải” của Kết luận 339. Theo đó, chuyển trọng tâm từ ưu đãi dựa trên lợi nhuận sang ưu đãi dựa trên chi phí cho khấu hao nhanh tài sản của hạng mục du lịch; chi phí đào tạo nhân lực, xúc tiến thị trường quốc tế được trừ 150 - 200% khi tính thuế - vừa tạo động lực thật, vừa tương thích thuế tối thiểu toàn cầu.

Theo đại biểu Lê Hoàng Anh, nếu vẫn giữ ưu đãi thuế suất thì phải quy định “cửa sổ” 5 năm: chỉ áp dụng cho dự án được chấp thuận trong giai đoạn 2027-2031, thời gian hưởng tính theo Luật Thuế TNDN và bỏ khoản 4 Điều 14 về áp dụng cho dự án đã được chấp thuận trước đó. Vì ưu đãi cho dự án đã quyết định đầu tư không làm thay đổi hành vi, chỉ là chi phí ngân sách.

Từ thực tiễn Quảng Trị, đại biểu Trần Vũ Khiêm (đoàn Quảng Trị) đề nghị gắn chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược với cơ chế kiểm soát chặt và phòng ngừa trục lợi. Dự thảo đặt ra các nhóm dự án có quy mô vốn lớn, đi cùng ưu đãi thuế và tiền thuê đất. Nếu tiêu chí và khâu hậu kiểm không rõ, theo đại biểu, có thể phát sinh tình trạng núp bóng du lịch để phát triển bất động sản thương mại hoặc hưởng ưu đãi khi dự án chưa tạo ra giá trị kinh tế - xã hội tương xứng.

Đại biểu kiến nghị các hạng mục du lịch được hưởng ưu đãi phải hạch toán độc lập doanh thu, chi phí; loại trừ hợp phần bất động sản thương mại, đất ở khỏi diện ưu đãi. Với dự án không bảo đảm tiến độ giải ngân hoặc sử dụng đất sai mục đích, cần có chế tài thu hồi ưu đãi, yêu cầu hoàn trả khoản thuế, tiền thuê đất đã được miễn, giảm kèm lãi phát sinh. Đại biểu lưu ý, nếu chỉ căn cứ vào mốc giải ngân 30% vốn trong ba năm mà không kiểm soát tiến độ phần còn lại, nhà đầu tư thiếu năng lực vẫn có thể giải ngân hình thức, giữ đất chờ tăng giá, khiến dự án tiếp tục đình trệ.

Đại biểu Trần Vũ Khiêm đồng thời đề nghị tăng hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình, hợp tác xã và cộng đồng làm du lịch quy mô nhỏ, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đệm di sản, khu vực biên giới và miền núi. Các hỗ trợ cần thiết thực, gồm tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi, đầu tư hạ tầng tại chỗ như nước sạch, xử lý rác thải, hạ tầng số và đào tạo nghề gắn với bản sắc văn hóa bản địa.

Hải Nam

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/de-nghi-quy-dinh-thoi-han-uu-dai-thue-toi-da-5-nam-doi-voi-du-an-du-lich-d71173.html