Để văn hóa truyền thống sống mãi trong cộng đồng
Trải qua nhiều thế hệ, đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi đã sáng tạo, gìn giữ và trao truyền nhiều giá trị văn hóa đặc sắc. Tiếng cồng chiêng, điệu múa xoang, câu hát giao duyên, những nghi lễ, lễ hội và nhạc cụ truyền thống… vẫn hiện diện trong đời sống, gắn với lao động, sinh hoạt và những ngày vui của mỗi làng.

Lễ mừng nhà rông mới là một trong những nghi lễ quan trọng của người Ba Na
Khi tiếng chiêng vang lên
Quảng Ngãi là nơi sinh sống lâu đời của các dân tộc Hrê, Co, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, Gia Rai, Brâu và Rơ Măm. Mỗi dân tộc có phong tục, tập quán và sắc thái văn hóa riêng, được hình thành, bồi đắp trong quá trình lao động, sản xuất và sinh hoạt cộng đồng.
Trong kho tàng văn hóa ấy, không gian văn hóa cồng chiêng là một trong những giá trị được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ. Với đồng bào các dân tộc thiểu số, cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà còn gắn với đời sống tâm linh, tín ngưỡng và các nghi lễ, lễ hội của cộng đồng.
Không gian văn hóa cồng chiêng tiếp tục được duy trì trong đời sống của nhiều dân tộc như Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Gia Rai, Brâu và Hrê. Tiếng cồng chiêng thường vang lên trong các nghi lễ, lễ hội, tại nhà rông, nhà sàn… trở thành âm thanh quen thuộc trong đời sống của mỗi làng.
Mỗi dân tộc, mỗi nhóm địa phương lại có những bộ chiêng lễ mang đặc trưng riêng. Người Xơ Đăng nhóm Xơ Teng có bộ chiêng S’teng gồm 7 chiêng bằng; nhóm Tơ Dră có bộ cồng Guông gồm 4 chiếc. Người Giẻ Triêng có bộ chiêng Nỉ gồm 3 chiêng bằng; người Brâu có bộ chiêng Tha gồm 2 chiêng bằng, trong khi Ba Na, Gia Rai có chiêng Hŏnh.

Không gian văn hóa được đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi gìn giữ và phát huy
Trong phần hội, tùy từng dân tộc, bộ cồng chiêng có từ 11-18 chiếc. Mỗi người đảm nhiệm một chiếc, cùng hòa vào nhau tạo nên những âm thanh rộn ràng. Tiếng trống, chũm chọe giữ nhịp, tiếng chiêng ngân vang hòa cùng vòng xoang khiến không gian làng trở nên náo nức.
Không chỉ tạo nên âm thanh đặc trưng của lễ hội, cồng chiêng còn góp phần gắn kết cộng đồng. Mỗi người cùng góp sức, cùng hòa nhịp để tạo nên một không gian văn hóa chung của làng.
Lễ hội nối dài kí ức
Cùng với cồng chiêng, nhiều nghi lễ, lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số được nghiên cứu, phục dựng và duy trì. Theo Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi, đã có hơn 46 nghi lễ, lễ hội truyền thống được nghiên cứu, phục dựng như Lễ ăn than của người Giẻ Triêng, Lễ cầu an của người Gia Rai, Lễ Ét đông của người Ba Na Giơ Lâng, Lễ cưới của người Giẻ Triêng, Lễ mừng nhà rông mới của người Xơ Đăng nhóm Ha Lăng, Lễ trỉa lúa của người Brâu…
Nhiều nghi lễ vẫn được cộng đồng thực hành thường xuyên như Lễ bắc máng nước của người Xơ Đăng ở làng Đăk Chum 1; Lễ mừng nước giọt của người Ba Na ở làng Kon Trang Long Loi; Lễ mừng lúa mới của người Rơ Măm ở làng Le; Lễ ăn than của người Giẻ Triêng; Lễ bỏ mả của người Gia Rai hay Lễ mừng nhà rông mới của cộng đồng các dân tộc thiểu số.

Lễ mừng nước giọt của người Ba Na ở làng Kon Trang Long Loi
Mỗi nghi lễ gửi gắm những mong ước giản dị về mùa màng thuận lợi, nguồn nước dồi dào, gia đình bình an, cuộc sống đủ đầy. Qua đó, những tri thức dân gian, phong tục, tập quán và cách ứng xử với thiên nhiên, cộng đồng cũng được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tại Làng du lịch cộng đồng Đăk Răng, xã Dục Nông, lễ hội Cha Kchiah (ăn than) của đồng bào Giẻ Triêng là một trong những lễ hội truyền thống được phục dựng và duy trì những năm gần đây.
Lễ hội được tổ chức vào tháng 5 hoặc tháng 6 hằng năm, mang ý nghĩa tạ ơn thần linh đã phù hộ cho mùa màng bội thu, đồng thời cầu mong những dụng cụ lao động luôn bền chắc để việc làm nương rẫy thuận lợi.
Nghệ nhân ưu tú A Brol Vẻ, ở làng Đăk Răng cho biết, để tổ chức lễ hội, người dân chuẩn bị từ nhiều ngày trước. Khoảng 30 nghệ nhân tham gia tập luyện cồng chiêng, thực hành các nghi thức truyền thống và đảm nhận các phần việc trong lễ.
Trước ngày hội, già làng lựa chọn 7 người đàn ông khỏe mạnh, có kinh nghiệm lao động lên rừng lấy than. Sau nghi thức khấn xin thần linh, họ tìm cây Kchiah, đốt thành than rồi mang về làng phục vụ việc rèn nông cụ.
Khi than được đưa về, tiếng cồng chiêng vang lên khắp làng. Già làng thực hiện nghi thức đưa than vào nhà rèn, cầu mong thần linh ban cho dân làng những công cụ lao động sắc bén, bền chắc.

Nghi thức đưa than về làng trong Lễ hội Cha Kchiah (ăn than) của đồng bào Gié Triêng ở Làng du lịch cộng đồng Đăk Răng, góp phần gìn giữ phong tục và tri thức dân gian gắn với nghề rèn truyền thống
Điểm đặc biệt của lễ hội còn nằm ở kỹ thuật rèn truyền thống được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Người Giẻ Triêng sử dụng lá non của cây đót kết hợp với bột cua đá nướng tạo thành hỗn hợp bôi lên thanh sắt trước khi đưa vào lò rèn. Cách làm này cho thấy kinh nghiệm sử dụng nguyên liệu tự nhiên đã được người dân tích lũy và trao truyền qua nhiều thế hệ.
Khi phần lễ khép lại cũng là lúc không khí hội làng trở nên rộn ràng. Người dân cùng đánh cồng chiêng, múa xoang, uống rượu cần, thưởng thức những món ăn truyền thống và chia sẻ kinh nghiệm sản xuất. Lễ hội vì thế vừa mang ý nghĩa tâm linh, vừa là dịp để bà con gặp gỡ, gắn kết.
Ở xã Tu Mơ Rông, đồng bào Xơ Đăng vẫn gìn giữ lễ mừng lúa mới, một trong những lễ hội quan trọng trong đời sống tinh thần. Khi lúa đã đầy kho, người dân chuẩn bị lễ vật để tạ ơn thần lúa, thần linh đã phù hộ cho mùa màng bội thu, đồng thời cầu mong năm mới mưa thuận gió hòa, cuộc sống no đủ.
Qua những lễ hội được duy trì ở các thôn, làng, những phong tục, tập quán và tri thức dân gian tiếp tục được trao truyền. Đây cũng là dịp để người trẻ hiểu hơn về văn hóa của cộng đồng mình.

Xã Tu Mơ Rông tái hiện không gian lễ mừng lúa mới
Những câu hát theo người đi nương
Nếu cồng chiêng thường vang lên trong những ngày hội thì dân ca, dân vũ lại gần gũi với đời sống hằng ngày. Những câu hát đối đáp, hát giao duyên phản ánh tình yêu đôi lứa, lao động sản xuất, cách ứng xử và những giá trị tốt đẹp trong cộng đồng.
Mỗi dân tộc có cách gọi và hình thức thể hiện dân ca riêng. Người Xơ Đăng có Rơ Nghê, Ting ting, cheo; người Ba Na có Ding ding, cheo, A nhông; người Gia Rai có Che che; người Giẻ Triêng có Ka đọ, Dọ sơ…
Dân ca có thể cất lên trong ngày lao động trên nương rẫy, trong lễ hội, cưới hỏi, khi ru trẻ hay trong những cuộc hẹn hò của trai gái. Không cần sân khấu, những câu hát được truyền từ người này sang người khác bằng trí nhớ và sự thực hành tự nhiên.
Phương thức truyền khẩu giúp các làn điệu dân ca được lưu giữ và tiếp nối trong đời sống cộng đồng. Qua lời hát, người trẻ được nghe kể về quê hương, con người, tình yêu và những cách ứng xử được cộng đồng coi trọng.
Cùng với dân ca, múa xoang cũng là nét văn hóa đặc trưng, thường hòa cùng tiếng cồng chiêng trong những ngày hội làng. Những động tác khi uyển chuyển, nhẹ nhàng, lúc sôi nổi theo nhịp chiêng tạo nên không khí vui tươi, gắn kết.
Bên cạnh đó là hệ thống nhạc cụ truyền thống phong phú như Tơ Rưng, Klong Put, Ding Tut, sáo, Ting Ning, chiêng tre, trống… Được chế tác chủ yếu từ tre, nứa, lồ ô bằng phương pháp thủ công, mỗi nhạc cụ thể hiện sự khéo léo và kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Nghi thức giã lúa, chuẩn bị cơm mới là điểm nhấn trong lễ mừng cơm mới của cộng đồng người Mường ở thôn Hào Phú, xã Sa Loong
Giữ văn hóa từ những điều bình dị
Tại thôn Hào Phú, xã Sa Loong, cộng đồng người Mường vẫn duy trì lễ mừng cơm mới như một nét văn hóa được gìn giữ từ khi đến vùng đất mới lập nghiệp.
Nghệ nhân Đinh Văn Thiệu, ở thôn Hào Phú cho biết, lễ mừng cơm mới được tổ chức vào tháng 9-10 âm lịch, sau khi kết thúc vụ mùa. Đây là dịp để người dân tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho một năm sản xuất thuận lợi, đồng thời cầu mong mùa vụ mới tiếp tục bội thu.
Lễ hội có các nghi thức như hòa âm cồng chiêng Sắc bùa, giã lúa, nấu cơm mới dâng tổ tiên cùng các hoạt động văn hóa, văn nghệ truyền thống.
Trong đó, giã lúa và nấu cơm mới là điểm nhấn của ngày hội. Tiếng cồng chiêng hòa cùng âm thanh từ những ống nứa do phụ nữ trong thôn tạo nên không gian lễ hội đậm đà bản sắc. Sau phần lễ, mọi người cùng quây quần thưởng thức cơm mới, uống rượu cần, múa xòe, hát ví Mường trong không khí vui tươi.
Những lễ hội như thế cho thấy văn hóa hiện diện từ những điều rất đỗi bình dị: một hạt lúa mới, tiếng chiêng vang trong làng, câu hát được truyền lại cho con cháu hay bữa cơm mọi người cùng quây quần sau phần lễ.
Để những giá trị ấy tiếp tục được trao truyền, đội ngũ nghệ nhân, già làng, người có uy tín giữ vai trò quan trọng. Họ không chỉ truyền lại cách đánh cồng chiêng, hát dân ca, múa xoang mà còn trao truyền nghề thủ công, phong tục, tập quán và những tri thức dân gian được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Từ lễ hội truyền thống đến các hoạt động du lịch cộng đồng, những giá trị văn hóa đặc sắc tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong đời sống hôm nay
Từ những làng quê vùng cao đến các điểm du lịch cộng đồng, những giá trị văn hóa ấy đang tiếp tục được thực hành trong đời sống. Du khách đến với các thôn, làng không chỉ được xem một tiết mục văn nghệ hay tham dự một lễ hội, mà còn có cơ hội hiểu hơn về cách cộng đồng gắn bó với đất đai, mùa màng, thiên nhiên và với nhau.
Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi vì thế không chỉ nằm trong những hiện vật được lưu giữ hay những nghi lễ được phục dựng. Văn hóa vẫn hiện diện trong tiếng chiêng vang lên mỗi mùa lễ hội, trong câu hát được người già truyền lại cho lớp trẻ, trong những món ăn, nghề thủ công và những cuộc gặp gỡ của bà con trong làng.
Khi văn hóa vẫn được cộng đồng thực hành bằng sự tự nguyện và niềm tự hào, những giá trị truyền thống sẽ tiếp tục có sức sống và góp thêm sắc màu cho đời sống văn hóa Quảng Ngãi.

