Đề xuất cơ chế tài chính đột phá để phát triển công nghệ chiến lược
Dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đang đề xuất hàng loạt chính sách mang tính đột phá, từ cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, quản lý theo kết quả đầu ra đến chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, tạo điều kiện thu hút nhân tài, thúc đẩy làm chủ công nghệ lõi và hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược có sức cạnh tranh quốc tế.

Quang cảnh hội thảo góp ý dự thảo Thông tư.
Đổi mới tư duy đầu tư cho công nghệ chiến lược
Cơ chế tài chính được xem là một trong những yếu tố quyết định khả năng phát triển các công nghệ chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, theo Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) Đào Ngọc Chiến, phương thức quản lý hiện nay vẫn chủ yếu được xây dựng theo mô hình các đề tài nghiên cứu, với cách lập dự toán thiên về các khoản chi cho nhân lực, vật tư, thiết bị, chưa phản ánh đúng đặc thù của quá trình phát triển, làm chủ và thương mại hóa công nghệ.
Từ thực tiễn đó, dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, NAFOSTED đã phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng dự thảo Thông tư quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đối với các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược.

Giám đốc Quỹ NAFOSTED Đào Ngọc Chiến.
Theo dự thảo, tư duy quản lý sẽ được chuyển từ cách tiếp cận theo “nhiệm vụ nghiên cứu” sang phát triển các dự án công nghệ gắn với sản phẩm và thị trường, đồng thời đổi mới cơ chế tài chính theo hướng tạo động lực cho các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp tham gia phát triển công nghệ chiến lược.
Giới thiệu Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược, đại diện NAFOSTED cho biết, chương trình được xây dựng nhằm tối ưu hóa nguồn lực quốc gia, thiết lập cơ chế điều phối thống nhất từ Trung ương đến địa phương và quản lý xuyên suốt theo chuỗi giá trị, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu với doanh nghiệp. Chương trình được xây dựng theo nguyên tắc lấy sản phẩm làm mục tiêu, doanh nghiệp làm trung tâm, công nghệ làm nền tảng và thị trường là thước đo. Trọng tâm là phát triển, làm chủ các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi phục vụ tăng trưởng kinh tế, quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia.
Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 phải phát triển và thương mại hóa hơn 30 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 10 sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế; làm chủ hơn 12 công nghệ lõi và hình thành ít nhất 5 chuỗi sản phẩm công nghệ chiến lược.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, chương trình dự kiến áp dụng nhiều cơ chế mới như quản lý theo kết quả đầu ra, triển khai thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) tối đa 24 tháng, cho phép nhiều nhóm nghiên cứu cùng thực hiện một nhiệm vụ, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, trao quyền tự chủ cao hơn cho tổ chức chủ trì, đồng thời thí điểm tạo lập thị trường thông qua cơ chế cam kết mua trước có điều kiện, xác định giá sản phẩm lần đầu và ưu tiên đầu tư hạ tầng nghiên cứu dùng chung.
Tháo gỡ 4 điểm nghẽn về cơ chế tài chính
Theo bà Nguyễn Thị Kim Thành, Kế toán trưởng NAFOSTED, mặc dù khung pháp lý về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã từng bước được hoàn thiện, song cơ chế tài chính hiện hành vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ lõi, công nghệ nguồn cũng như thu hút đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

Bà Nguyễn Thị Kim Thành, Kế toán trưởng NAFOSTED.
Dự thảo Thông tư được xây dựng nhằm tháo gỡ 4 điểm nghẽn lớn, gồm: Chế độ đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh; phương thức lập dự toán vẫn theo các khoản mục chi thay vì theo vòng đời công nghệ; chưa có cơ chế sử dụng quỹ dự phòng rủi ro; chưa cho phép triển khai đồng thời nhiều phương án nghiên cứu độc lập đối với cùng một nhiệm vụ.
Để giải quyết các bất cập này, dự thảo đề xuất 6 nhóm cơ chế tài chính mới, bao gồm: Cơ chế đãi ngộ đặc biệt đối với nhân lực tham gia nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược; bố trí kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng kinh phí nhiệm vụ; quản lý và quyết toán theo kết quả đầu ra, mức khoán; cho phép triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập; trao quyền chủ động lựa chọn nhà cung cấp; và quản lý theo chuỗi nhiệm vụ nhằm tăng tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Một trong những nội dung thu hút nhiều sự quan tâm là đề xuất khung thu nhập cạnh tranh dành cho đội ngũ nhân lực chủ chốt tham gia các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. Theo đó, mức thu nhập tối đa được đề xuất là 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư; 250 triệu đồng/tháng đối với Kiến trúc sư trưởng; 150 triệu đồng/tháng đối với Chủ nhiệm nhiệm vụ hoặc Chủ tịch Hội đồng; 140 triệu đồng/tháng đối với các chuyên gia, nhà khoa học tham gia. Riêng mức dành cho Tổng công trình sư được đề xuất cao hơn mức quy đổi nhằm tăng sức cạnh tranh trong thu hút nguồn nhân lực đặc biệt khan hiếm.
Theo NAFOSTED, việc xây dựng cơ chế tài chính mới không chỉ nhằm điều chỉnh phương thức quản lý kinh phí mà còn thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy “quản lý chi phí” sang “đầu tư cho phát triển công nghệ chiến lược”. Qua đó, tạo nền tảng để thu hút nhân tài, thúc đẩy doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu tham gia phát triển công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực làm chủ công nghệ lõi và sức cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn tới.












