Đề xuất đưa kim cương vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Đại biểu Quốc hội đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Thậm chí, loại hình kinh doanh này cần áp dụng điều kiện chặt chẽ hơn.

Đại biểu Quốc hội phản ánh hoạt động kinh doanh vàng và kim cương diễn biến phức tạp thời gian qua. Ảnh: PNJ.
Chiều 5/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.
Tại nghị trường, đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) đề cập tới thực trạng thời gian qua, hoạt động kinh doanh vàng và kim cương diễn biến phức tạp.
Qua đó, đại biểu đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, thậm chí loại hình kinh doanh này cần áp dụng điều kiện chặt chẽ hơn. Hiện trong dự thảo đã quy định kinh doanh vàng (trừ vàng trang sức, mỹ nghệ) là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Tinh thần chung khi góp ý vào việc sửa luật này được ông An nhấn mạnh là tạo môi trường kinh doanh cởi mở, thúc đẩy phát triển, nhưng cắt giảm các điều kiện kinh doanh phải đi vào thực chất và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển của doanh nghiệp, của môi trường đầu tư kinh doanh.

Đại biểu Trịnh Xuân An đề xuất đưa kinh doanh kim cương vào ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Ảnh: Quochoi.vn.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Văn Huy (đoàn Hưng Yên) cho rằng cần bổ sung điều kiện đầu tư, kinh doanh đối với một số mô hình mới, phát sinh nhiều rủi ro, nhưng chưa được điều chỉnh đầy đủ.
Ông Huy phân tích vừa qua thị trường bất động sản nghỉ dưỡng phát sinh nhiều vụ việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài liên quan đến mô hình sở hữu kỳ nghỉ. Nhiều vụ việc có dấu hiệu lừa đảo dưới danh nghĩa bán gói nghỉ dưỡng đã bị điều tra, khởi tố.
Theo ông Huy, đây không còn là những tranh chấp dân sự riêng lẻ mà đã trở thành vấn đề ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng.
Ông đánh giá điều đáng lo ngại của mô hình là cơ chế huy động lượng tiền rất lớn của người dân thông qua việc bán trước quyền sử dụng dịch vụ. Trong vòng 10-30 năm, doanh nghiệp có thể thu hàng trăm triệu đến hàng tỷ cho mỗi hợp đồng kỳ nghỉ. Trong khi đó, việc quản lý, sử dụng dòng tiền hiện chưa chịu bất kỳ cơ chế kiểm soát chuyên biệt nào.
Vì vậy, khi doanh nghiệp mất khả năng thực hiện cam kết hoặc chấm dứt hợp đồng, rủi ro hầu như được chuyển toàn bộ sang phía người tiêu dùng.
Ông cũng đề nghị xác định tên ngành nghề theo bản chất của hoạt động cung cấp quyền lưu trú dài hạn trên cơ sở thanh toán trước thay vì chỉ dựa trên tên thương mại của sản phẩm. Ông giải thích cách tiếp cận này sẽ bảo đảm tính pháp lý, hạn chế tình trạng doanh nghiệp thay đổi tên gọi hoặc hình thức giao dịch để né tránh sự điều chỉnh của pháp luật.











