Đến năm 2035, 100% cơ sở giáo dục đại học phấn đấu đạt chuẩn
Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn vào năm 2035, tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%.
Ngày 18/9, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký ban hành Quyết định số 1810/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Đây là bước cụ thể hóa Điều 7 Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về đột phá phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Sinh viên Đại học Phenikaa trong phòng thí nghiệm. Ảnh minh hoạ: NTCC
Mục tiêu lớn nhất của Chiến lược là đưa giáo dục đại học trở thành “hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia”, giữ vai trò nòng cốt trong phát triển nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước.
Chiến lược không chỉ đặt ra các chỉ tiêu đến năm 2030 hay 2035, mà tạo ra sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển và quản trị đại học.
Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ; 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong 12 tháng.
Những con số này phải được chuyển hóa thành chất lượng và hiệu quả thực chất. Qua đó, mỗi trường đại học phải được nhận diện bằng chất lượng và giá trị đóng góp cho đất nước, không chỉ bằng quy mô đào tạo.
Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 được xem là “bản đồ phát triển” của giáo dục đại học Việt Nam, đồng thời là căn cứ để sắp xếp mạng lưới, giao nhiệm vụ và đầu tư nguồn lực trong giai đoạn tới. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ phát triển chủ yếu theo quy mô sang phát triển theo chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp.
Theo Chiến lược, giai đoạn tới phải chuyển rõ từ tăng quy mô sang nâng chất lượng và hiệu quả. Trong tuyển sinh, mục tiêu không còn là “tuyển đủ”, mà là tuyển đúng, tuyển người học phù hợp và bảo đảm chất lượng. Chỉ tiêu tuyển sinh phải căn cứ vào chất lượng nguồn tuyển, đội ngũ, cơ sở vật chất, nhu cầu nhân lực và khả năng có việc làm sau tốt nghiệp.
Chiến lược xác định không thể nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu nếu tiếp tục đầu tư nhỏ lẻ, phân tán hoặc chỉ chú trọng giảng đường. Hạ tầng đại học hiện đại phải bao gồm đồng bộ phòng thí nghiệm, hạ tầng số, dữ liệu, trung tâm tính toán và không gian đổi mới sáng tạo.
Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đại học tinh hoa và các ngành chiến lược; phát triển từ 20 đến 25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc tế, với nòng cốt là các phòng thí nghiệm trọng điểm, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ lớn và đại học uy tín trên thế giới.
Chiến lược đặt ra bộ chỉ số cốt lõi của giáo dục đại học. Bộ chỉ số là công cụ để chuyển từ quản lý chủ yếu bằng hồ sơ, thủ tục sang quản trị bằng mục tiêu, dữ liệu và kết quả. Đây cũng là “bảng đo sức khỏe và mức độ đóng góp” của từng cơ sở giáo dục đại học, phù hợp với sứ mạng của cơ sở đó.
Năm 2025, các cơ sở giáo dục đại học có 21.014 công bố thuộc cơ sở dữ liệu Scopus, chiếm 83,61% tổng số công bố của cả nước; sáu tháng đầu năm 2026, tỷ trọng này đạt 84,99%. Nhưng bộ chỉ số sẽ không chỉ đếm bài báo, mà còn đo sáng chế, chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn và tác động thực tế của nghiên cứu.
