Dệt may Việt Nam trong nỗ lực tăng sức cạnh tranh
Tăng năng lực thiết kế, tốc độ giao hàng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu là thước đo sức cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong năm mới 2026.
Kết thúc năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam ước đạt hơn 46 tỉ đô la Mỹ, trong đó hàng may mặc khoảng 38 tỉ đô la. Đây là một mức cao kỷ lục nhưng biên lợi nhuận trong thực tế đang thu hẹp nhanh, theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS).
Lợi nhuận mỏng, mất vị thế cạnh tranh giá rẻ
Năm 2026, doanh nghiệp may mặc chạm trán với thực tế rõ ràng hơn: không còn chuyện hợp đồng may mặc được ký kết trước khi thực hiện từ 3-6 tháng như trước nữa; Giá trị đơn hàng cũng nhỏ hơn trước, thời gian giao hàng gấp gáp trong khi đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao hơn.
Như Tổng công ty May 10 nơi vừa đang làm đơn hàng quí 1 vừa chờ đợi xác nhận các đơn hàng cho quí 2. Tổng giám đốc Thân Đức Việt của May 10 gọi tình trạng đơn hàng này là “thiếu ổn định” và cho hay nhiều hợp đồng chỉ xác nhận trước vài tuần hoặc vài ngày khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh kế hoạch liên tục.
Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) Cao Hữu Hiếu lý giải thêm: “Khách quốc tế ngày càng đặt theo lô nhỏ để giảm chi phí tồn kho - điều này lợi cho họ nhưng khiến chi phí quản trị và sản xuất của nhà máy Việt Nam tăng mạnh”. Ông Hiếu nhận định năm 2026 không khó về số lượng đơn hàng nhưng rất căng về giá. Nhiều hợp đồng mới phải giảm tối thiểu 5% về giá trị để tăng phần cạnh tranh, trong khi các khoản chi lương tối thiểu, năng lượng và logistics đều tăng. Không ít doanh nghiệp phải nhận đơn với biên lợi nhuận chỉ 3-4% để giữ khách.
Trên thực tế, Việt Nam không còn lợi thế cạnh tranh tuyệt đối khi nói về chi phí nhân công nữa. Tiền lương bình quân trong ngành may Việt Nam hiện cao hơn Bangladesh, Campuchia, Indonesia khoảng 15-30%, trong khi năng suất lao động chưa tạo được sự khác biệt tương xứng. Vì vậy, chiến lược cạnh tranh dựa chủ yếu vào giá rẻ đang trở nên kém hiệu quả và khó duy trì hơn. “Nếu chỉ cạnh tranh bằng giá, chúng ta sẽ sớm chạm trần”, theo Chủ tịch VITAS Vũ Đức Giang.
Tự động hóa chỉ giải quyết phần ngọn
Trong nhiều năm, ngành dệt may Việt Nam phát triển dựa vào gia công khối lượng lớn với giá rẻ. Mô hình đó bộc lộ nhiều điểm yếu hơn trong bối cảnh thị trường nhiều thay đổi với hàng rào kỹ thuật ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc… và các đối thủ trong khu vực không ngừng lớn mạnh. Tự động hóa được cho là một hướng đi bắt buộc nhưng chỉ giúp giải quyết phần ngọn, bởi sức cạnh tranh dựa vào năng lực tạo giá trị gia tăng, như thiết kế, phát triển sản phẩm, dịch vụ hậu cần, quản trị chuỗi cung ứng và khả năng giao hàng linh hoạt lại là những khoảng trống lớn của dệt may Việt Nam.

Các công nhân làm việc tại nhà xưởng may Việt Tiến. Ảnh: QUỐC HÙNG
Chủ tịch VITAS Vũ Đức Giang nói thẳng: “Gia công số lượng lớn đã tới hạn. Lối đi khả thi là chuyển sang phân khúc giá trị cao, nơi doanh nghiệp không chỉ bán giờ công lao động mà bán thiết kế, giải pháp và dịch vụ trọn gói”. Ông Giang đơn cử một doanh nghiệp Việt Nam đã hoàn thành đơn hàng 6,8 triệu áo sơ mi đơn chiếc cho thị trường toàn cầu trong năm 2025 như một minh chứng cho xu hướng cá nhân hóa.
May 10 đang đẩy mạnh mảng may đo cá nhân cho thị trường Nhật Bản và Mỹ, theo lời Chủ tịch VITAS. Thay vì sản xuất hàng loạt, mỗi sản phẩm được thiết kế riêng theo số đo từng khách hàng. Quy trình này đòi hỏi tay nghề cao với tỷ lệ lao động thủ công lên tới 60%, nhưng mang lại biên lợi nhuận tốt hơn.
Dù vậy, chuyển sang giá trị cao không dễ dàng. Hầu hết các doanh nghiệp may mặc Việt Nam vẫn yếu ở các khâu có giá trị gia tăng lớn như thiết kế, phát triển mẫu, xây dựng thương hiệu và logistics quốc tế. Đơn hàng chủ yếu theo phương thức CMT hoặc FOB cấp thấp, phụ thuộc nguyên liệu và thiết kế từ nước ngoài.
Điểm nghẽn về tỷ lệ nội địa hóa nguồn nguyên phụ liệu đầu vào của ngành may rất đáng nói đến. Năm 2025, Công ty may Việt Tiến đạt doanh thu 18.500 tỉ đồng. Công ty này là nhà cung ứng lớn cho Nike, Uniqlo nhưng đáng chú ý nhất họ đã nội địa hóa được đến 70% nguyên phụ liệu đầu vào, giúp họ chủ động hơn trước các yêu cầu về quy tắc xuất xứ. Thế nhưng, Việt Tiến là trường hợp đặc biệt vì toàn ngành chỉ mới nội địa hóa được khoảng 46-48% nguyên phụ liệu. Khâu dệt - nhuộm phát triển chậm do vướng quy hoạch, yêu cầu môi trường và thiếu quỹ đất, trở thành “nút thắt cổ chai” lớn nhất cản trở việc nâng giá trị gia tăng.
Năm 2026, áp lực xanh còn lớn hơn với hàng may mặc vào các thị trường EU, Mỹ, Nhật khi những thị trường này yêu cầu minh bạch phát thải carbon, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu tái chế và truy xuất nguồn gốc đến từng công đoạn. Các quy định như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU khiến nhiều doanh nghiệp đối mặt nguy cơ bị loại khỏi chuỗi cung ứng nếu không đáp ứng kịp.
“Chi phí tuân thủ ESG tăng rất nhanh, từ đầu tư xử lý nước thải, năng lượng sạch, chứng nhận quốc tế… Đây là gánh nặng lớn, nhất là với doanh nghiệp vừa và nhỏ”, một lãnh đạo dệt nhuộm phía Nam chia sẻ. Trong khi đó, nhiều khách hàng quốc tế vừa đòi hỏi tiêu chuẩn cao hơn nhưng vẫn ép giảm giá, sự bất cân xứng đó đang đẩy doanh nghiệp vào thế khó.
Mở nhà máy ở nước ngoài và vai trò chính sách
Trước biến động thuế quan và địa chính trị, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chọn chiến lược mở rộng sản xuất ra nước ngoài dù theo một số chuyên gia, điều này cần thận trọng cân nhắc. Theo VITAS, hiện có gần 30 doanh nghiệp dệt may Việt Nam và FDI tại Việt Nam đã đầu tư sang Indonesia, Bangladesh, Ai Cập, Nam Á và Mỹ Latinh. Trong làn sóng này có Việt Tiến đang nghiên cứu mở nhà máy tại Indonesia hoặc Mexico; một số doanh nghiệp khác đã hiện diện tại Bangladesh, Ai Cập, Mexico để tiếp cận thị trường Mỹ, EU với thuế suất thấp hơn.
“Đầu tư ra nước ngoài không phải rút lui khỏi Việt Nam, mà là chiến lược đa điểm hóa sản xuất để giảm rủi ro và tận dụng ưu đãi thương mại”, ông Giang nhận định.
Có thể hiểu rằng, doanh nghiệp may Việt Nam vẫn sẽ bám trụ thị trường nội địa và ở góc nhìn này ngành may cần đến sự giúp sức của các chính sách nhà nước. Trong khi các đối thủ như Bangladesh, Ấn Độ hay Mexico đang có chính sách hỗ trợ rất mạnh cho chuỗi cung ứng nội địa thì tại Việt Nam quy hoạch các khu công nghiệp dệt - nhuộm tập trung còn chậm; cơ chế khuyến khích đầu tư công nghệ xanh thiếu đột phá; tín dụng ưu đãi cho chuyển đổi số và ESG còn hạn chế. Nếu không có giải pháp ở tầm quốc gia, từ hạ tầng logistics, năng lượng sạch đến phát triển công nghiệp phụ trợ, nỗ lực của từng doanh nghiệp sẽ khó tạo ra bước nhảy về chất.
VITAS đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 64,5-65 tỉ đô la Mỹ vào năm 2030. Giai đoạn 2026-2030 cũng được xem là bước ngoặt tái định vị của dệt may Việt Nam: từ công xưởng gia công sang trung tâm sản xuất có giá trị cao trong khu vực. Doanh nghiệp nào làm chủ công nghệ, xanh hóa sản xuất và xây dựng được nhãn hiệu riêng sẽ đi xa; ngược lại, những mô hình chỉ dựa vào nhân công rẻ và gia công thuần túy sẽ dần bị loại khỏi cuộc chơi. Cuộc chuyển dịch đó không dễ dàng, nhưng là con đường tất yếu để dệt may Việt Nam phát triển thực chất và gia tăng sức cạnh tranh của mình.
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/det-may-viet-nam-trong-no-luc-tang-suc-canh-tranh/












