Di dân khỏi vùng đất lở (Bài 1): Nỗi lo bên sườn núi
Ở những xã vùng cao giáp biên xứ Thanh, nơi địa hình bị chia cắt mạnh và nền địa chất tiềm ẩn nhiều bất ổn, mỗi mùa mưa lũ đi qua không chỉ là câu chuyện của thiên tai mà là phép thử đối với sự an toàn của từng bản làng. Sạt lở đất, lũ ống, lũ quét không còn là nguy cơ xa xôi, mà luôn hiện hữu, lặp lại qua ký ức những lần 'chạy lũ' ám ảnh. Bài toán 'an cư' vì thế không thể chậm trễ, đòi hỏi những quyết sách kịp thời, căn cơ và xuất phát từ chính thực tiễn đời sống.

Những ngôi nhà của bà con bản Suối Lóng, xã Tam Chung dưới chân núi luôn bị rình rập mỗi khi có mưa lũ. Ảnh: Đình Giang
Những cuộc “chạy lũ” trong đêm
Bản Suối Lóng, xã Tam Chung nằm giữa những dãy núi cao vút, dốc dựng đứng. Đường vào bản quanh co theo chân đồi. Sau mỗi mùa mưa, con đường lại thêm phần trắc trở. Ở đó, là cuộc sống của hơn 100 hộ dân với gần 600 nhân khẩu người Mông sinh sống, điều kiện còn nhiều thiếu thốn. Cả bản có tới 30 hộ dân đến nay vẫn chưa có điện lưới; 37 hộ khác nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở cao. Điều hằn sâu nhất với người dân nơi đây chính là ký ức những lần “chạy lũ” như một nỗi ám ảnh với cả bản làng.
Trưởng bản Sùng A Chua nhắc đến những mùa lũ với giọng trầm buồn. Mỗi mùa mưa bão là hình ảnh hàng chục hộ dân lại rồng rắn rời nhà. Những bước chân vội vã đi trong bóng tối, dắt díu nhau tìm đến nhà văn hóa bản, nơi có thể lánh nạn, được coi là an toàn. “Chạy lũ” là cách gọi giản dị, nhưng là nỗi ám ảnh kéo dài với người dân nơi đây. Chỉ cần mưa lớn, nước từ thượng nguồn đổ về, kéo theo đất đá, hiểm họa có thể ập đến bất cứ lúc nào. Con suối Son vốn hiền hòa bỗng trở nên hung dữ. Việc sơ tán dân, theo lời Trưởng bản Sùng A Chua, đã trở thành phản xạ quen thuộc. Có khi trời còn chưa mưa, nhưng lệnh di dời đã được phát đi. Trước nguy cơ đất lở, đi qua những lần “chạy lũ”, một dự án tái định cư (TĐC) cho bà con bản Suối Lóng cũng đã được hình thành, cho người dân những kỳ vọng mới.
Nhưng Suối Lóng không phải là bản duy nhất mang trong mình nỗi lo mùa lũ. Đường vào bản Tung, xã Trung Lý được xem là tuyến đi khó đi nhất. Trải nghiệm mới thấy, gần 12km đường núi ngoằn ngoèo, có đoạn sạt lở làm đứt gãy mặt đường, mỗi chuyến đi như một cuộc vật lộn với địa hình. Bản Tung nhỏ bé, chênh vênh giữa lưng chừng núi. Bản có 63 hộ với hơn 300 nhân khẩu, phần lớn là hộ nghèo. Cuộc sống dựa vào nương rẫy, trồng ngô, sắn, chăn nuôi nhỏ lẻ, tự cung tự cấp là chính. Nhưng điều khiến người dân nơi đây bất an hơn cả là nỗi lo sạt lở luôn “treo” lơ lửng trên đầu. Ông Giàng A Hòa, Trưởng bản Tung dẫn chúng tôi lên sườn đồi nơi xuất hiện những vết nứt từ mùa mưa lũ năm 2018. Trên đồi, một vết nứt dài khoảng 150m cắt ngang sườn núi, sâu và rộng, có chỗ chênh lệch tới hơn 2m. Sau những trận mưa lũ, đất đá đổ xuống sát mép bản, buộc người dân phải di dời khẩn cấp. Ông Hòa nhìn lên triền núi, giọng nặng trĩu: “Từ mùa mưa bão năm 2018 đến nay, năm nào cũng có cán bộ túc trực ở bản, hễ có nguy cơ là “lệnh” di dời được phát đi; bà con luôn trong tâm thế sẵn sàng sơ tán”.
Kể cho tôi nghe về cảm xúc, nỗi ám ảnh thời điểm ấy, đó là những đêm mưa kéo dài, nước suối Tung dâng cao, hòa với tiếng gầm gào, tiếng đất đá lăn từ trên núi xuống, khiến cả bản thức trắng. Không đợi đến khi nguy hiểm cận kề, nhiều gia đình đã chủ động rời nhà trong đêm. “Chạy lũ” ở đây không còn là tình huống bất ngờ, mà đã trở thành một phần trong nhịp sống mùa mưa bão của bà con bản Tung.
Nỗi lo tương tự ở bản Ma Hác, xã Trung Lý. Những trận mưa lũ kéo dài đã để lại những vết nứt trên sườn núi phía sau bản. Theo thời gian, những vết nứt ngày càng lộ rõ, dấu hiệu cảnh báo sạt lở bất cứ lúc nào. Trưởng bản Ma Hác Hờ A Trắm, chia sẻ: “Có những đêm mưa lớn, tôi không thể ngủ, cả nhà thức trắng. Khi lệnh sơ tán được phát ra, cả gia đình đã sẵn sàng đi tìm nơi trú tạm, trời tạnh mới dám quay về. Nỗi lo không chỉ của riêng gia đình, mà là nỗi bất an chung của cả bản”.
Những bản làng tôi đã đi qua, ký ức “chạy lũ” đến nay vẫn hiện hữu theo thời gian, qua mỗi mùa mưa lũ. Dù rằng, các bản Suối Lóng, Ma Hác hay Tung đều đã có chủ trương đầu tư dự án TĐC từ khá sớm, ngay sau khi được cảnh báo về nguy cơ cao sạt lở. Nhưng do nhiều vướng mắc kéo dài dẫn đến chậm đầu tư.
“Nút thắt” đầu tư kéo lùi bài toán an cư
Để lý giải vì sao nhiều dự án TĐC trên địa bàn các xã vùng biên giới chậm triển khai, thậm chí “treo” ngay từ bước chuẩn bị đầu tư, có thể thấy rõ hai “nút thắt” lớn: định mức đầu tư chưa sát thực tế đặc thù địa bàn và điều kiện địa hình, địa chất của vùng núi cao.
Theo báo cáo từ Ban Quản lý dự án đầu tư công trình giao thông Thanh Hóa, đơn vị chủ đầu tư dự án phân tích: Phần lớn các điểm quy hoạch TĐC đều nằm trên địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh. Đặc điểm này tương đồng với nhiều khu đã triển khai trước đó, nơi chi phí xử lý nền, san gạt, gia cố luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng mức đầu tư. Trong khi định mức hỗ trợ hiện hành được quy định ở mức 300 triệu đồng/hộ đối với khu TĐC tập trung và 150 triệu đồng/hộ đối với khu TĐC liền kề là chưa phù hợp. Bài toán đặt ra là: nếu đầu tư đầy đủ các hạng mục theo chủ trương đã được phê duyệt thì tổng mức đầu tư sẽ vượt khung quy định; ngược lại, nếu “co” theo định mức, dự án không đảm bảo quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật và đặc biệt là các giải pháp gia cố an toàn cho người dân khi đến ở. Đây là “điểm nghẽn” khiến nhiều dự án lúng túng.
Thực tế triển khai cho thấy, hầu hết các dự án tại các xã vùng biên giới thuộc huyện Mường Lát cũ, khi lập thiết kế đều vượt tổng mức đầu tư. Trong khi đó, các yếu tố đầu ra như số hộ dân cần bố trí lại không thể điều chỉnh. Đặc biệt, với địa hình phức tạp, nhiều khu vực buộc phải bổ sung các hạng mục xử lý nền, kè chống sạt lở, thoát nước... làm chi phí tăng cao so với dự toán ban đầu. Không ít dự án rơi vào tình trạng không thể triển khai. Có dự án, ngay cả hạng mục san nền, vốn là điều kiện tiên quyết cũng không đủ kinh phí để triển khai. Điển hình như dự án sắp xếp dân cư bản Trung Thắng, xã Mường Lý: sau khi bóc lớp đất bề mặt, toàn bộ nền phía dưới là đá, khối lượng phát sinh lớn khiến đơn vị thi công không thể tiếp tục với giá gói thầu đã phê duyệt.
Cùng với đó là hàng loạt vướng mắc về pháp lý đất đai. Một số khu TĐC như bản Tung (xã Trung Lý); bản Lách (xã Mường Chanh) nằm trong diện tích rừng tự nhiên; khu TĐC Suối Lóng sau điều chỉnh quy mô đầu tư thì lại liên quan đến đất rừng phòng hộ. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, hoàn thiện thủ tục pháp lý vì thế kéo dài, làm chậm toàn bộ tiến độ chuẩn bị đầu tư. Một số dự án TĐC dù đã có chủ trương từ năm 2022, đến nay vẫn chưa thể hoàn thiện phương án khả thi.
Nguyên nhân chủ yếu vẫn xoay quanh khối lượng san nền lớn, địa chất phức tạp, giá vật liệu tăng cao... khiến dự toán đều vượt khung theo quy định hiện hành. Một số dự án thậm chí chưa thể trình thẩm định vì không “khớp” giữa yêu cầu kỹ thuật và tổng mức đầu tư. Bên cạnh đó, vướng mắc còn đến từ quy hoạch. Đơn cử như, dự án khu TĐC khu phố Na Khà, thị trấn Mường Lát (nay là thôn Na Khà, xã Mường Lát) phải chờ điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chung do chưa được cập nhật trong quy hoạch trước đó, kéo dài thêm thời gian chuẩn bị đầu tư.
Từ thực tế trên có thể thấy, những hạn chế từ các quyết định trước đây, đặc biệt là việc áp định mức đầu tư mang tính “bình quân” đã bộc lộ rõ khi triển khai tại các khu vực có điều kiện đặc thù. Các khu TĐC như Ma Hác, Tung, Suối Lóng... đều chung nguyên nhân là chi phí thực tế vượt xa tổng mức đầu tư theo quy định.
Những lần “chạy lũ” rồi cũng qua, nhưng nỗi lo thì không rút đi cùng con nước. Khi nguy cơ sạt lở vẫn treo lơ lửng trên đầu, cuộc sống của người dân nơi đây cũng chênh vênh theo từng mùa mưa bão. Và phía sau câu chuyện an toàn, là một bài toán khác chưa có lời giải: khi nơi ở mới chưa thành hình, người dân sẽ bám trụ ra sao, và giấc mơ “an cư” sẽ còn phải chờ đến bao giờ?
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/di-dan-khoi-vung-dat-lo-bai-1-noi-lo-ben-suon-nui-282299.htm











