Di dân khỏi vùng đất lở (Bài 2): Giấc mơ 'an cư' cùng khát vọng thoát nghèo
Giấc mơ 'an cư' không chỉ là mong muốn có một nơi ở an toàn, mà còn là điểm khởi đầu cho hành trình ổn định cuộc sống và thoát nghèo của người dân vùng cao. Thế nhưng, khi các khu tái định cư (TĐC) vẫn chậm tiến độ, một thực tế đang hiện hữu: người dân bị đặt trong thế lưỡng nan: ở lại thì đối mặt với hiểm họa, còn di dời thì chưa biết đi đâu. Trong khoảng chờ ấy, không chỉ mái nhà, mà cả sinh kế và tương lai của họ cũng bị 'treo' lại theo thời gian.

Một góc bản Tung, xã Trung Lý nhìn từ trên cao, nơi nhiều ngôi nhà đã xuống cấp. Ảnh: Đình Giang
Những mái nhà chênh vênh bên núi
Con đường nối trung tâm xã Trung Lý với bản Tung dài chừng 12km, ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, có những đoạn sạt lở từ mùa lũ trước vẫn còn in hằn, loang lổ. Vào bản với quãng đường không xa, nhưng phải mất gần một giờ đồng hồ “vật lộn”. Bản Tung trước mắt nhỏ bé, chênh vênh giữa lưng chừng núi. Bản có 63 hộ với hơn 300 nhân khẩu, phần lớn là hộ nghèo. Trưởng bản Giàng A Hòa chỉ tay về những mái nhà đã bạc màu, nằm chênh vênh bên sườn núi, dọc suối Tung, giọng chậm lại: “Biết là xuống cấp đấy, nhưng không dám sửa. Làm rồi, sau này di dời thì không được hỗ trợ. Không làm thì cứ mưa là lo!”.
Cái “lo” ở bản Tung không còn là cảm xúc nhất thời, mà trở thành một trạng thái thường trực qua mỗi mùa mưa bão. Theo ông Hòa, khoảng 50% số hộ của bản có nhà không đảm bảo an toàn. Có nhà vách đã nghiêng, mái đã mục. Đêm xuống, gió thổi từ sườn núi, tiếng mái lợp rung lên lạch cạch. Ngày thì nắng chiếu vào tận đầu giường. Trưởng bản nói: “Mưa to là không ai dám ngủ sâu. Cứ nghe tiếng động là dậy, chuẩn bị sẵn đồ đạc để di dời”. Điện lưới quốc gia cũng chưa về tới bản. Khi trời tối, cả bản Tung chỉ còn vài điểm sáng le lói từ điện năng lượng mặt trời. Ánh sáng ấy đủ để sinh hoạt, nhưng không đủ để xua đi nỗi lo mỗi khi trời đổ mưa.
Rời bản Tung, những con đường đất vùng biên vắt vẻo như sợi dây đưa chúng tôi đến bản Pù Đứa, xã Quang Chiểu. Bản làng dù nghèo nhưng hiện ra yên bình. Song, như lời cán bộ xã này, thì khung cảnh bình yên ấy chỉ có khi mùa mưa bão chưa bắt đầu. Hơn 40 hộ dân ở đây vẫn sống trong cảnh “chạy lũ” mỗi khi trời nộ. Một dự án TĐC đã có từ nhiều năm trước, nhưng vẫn chưa thể triển khai. Trong căn nhà nhỏ sát chân đồi, chị Hơ Thị Dia, kể lại những lần sơ tán: “Cứ mưa to là phải đi. Bỏ lại hết, chỉ mang theo ít gạo, mắm muối. Có khi ở nhà văn hóa cả tuần mới được về”. Tôi hỏi điều gì khiến chị lo nhất, chị nhìn về phía sườn đồi trước mặt, nói: “Sợ đi rồi không còn nhà để về nữa!”. Câu trả lời ngắn, nhưng đủ để tôi thấy được cái mong manh, nỗi lo của người dân nơi đây.
Được biết, phương án di dời TĐC cho bà con bản Pù Đứa đã có từ lâu, nhưng do chưa bố trí được nguồn lực nên vẫn phải chờ. Trong khi đó, địa hình dốc, nền đất yếu, chỉ cần mưa kéo dài là nguy cơ sạt lở hiện hữu. Không chỉ Pù Đứa, ở xã vùng biên Quang Chiểu còn có các bản Xim, Suối Tút cũng trong tình cảnh tương tự. Điểm chung là đều nằm ở vị trí cheo leo, xa trung tâm. Và cũng từ đó, một thực tế kéo dài: nhà cửa xuống cấp nhưng người dân không thể sửa chữa. Nhắc đến đây, tôi lại nhớ câu nói của anh Sùng A Lử, ở bản Suối Lóng, xã Tam Chung trước đó: “Muốn sửa cái nhà lắm chứ, nhưng nghĩ kỹ lại thôi. Đã có dự án TĐC rồi thì chờ thêm”. Cái “chờ thêm” ấy vắt từ mùa lũ này sang mùa lũ khác.
Thiếu điện và những "khoảng chờ”
Không chỉ dừng lại ở chuyện nhà ở, những “khoảng chờ” còn kéo theo hàng loạt vấn đề. Ở bản Xa Lung (xã Mường Lý), sự thiếu hụt những điều kiện tối thiểu của đời sống, bắt đầu từ việc chưa có điện lưới. Bao năm qua, cuộc sống của bà con bản Xa Lung vẫn quanh quẩn với nương rẫy, cây ngô, cây lúa, tự cung, tự cấp. Khi chưa có điện, ngày dài kết thúc sớm hơn theo ánh mặt trời. Đêm xuống, cả bản chìm trong bóng tối, chỉ le lói những ánh đèn sáng yếu ớt từ bình tích điện hoặc tua-bin nước nhỏ. Ánh sáng ấy chỉ đủ duy trì sinh hoạt tối thiểu, nhưng không thể tạo ra điều kiện để người dân phát triển sản xuất, tiếp cận thông tin.
Tôi ghé bản lúc chiều muộn, trong căn nhà chênh vênh trên sườn đồi, trưởng bản Sùng Seo Sểnh tiếp chúng tôi dưới ánh sáng yếu ớt từ chiếc đèn học của cậu con trai. Sểnh nói thẳng, không vòng vo: “Không có điện thì không làm được gì thêm. Chỉ biết lên nương thôi”. Rồi anh chậm lại, nhìn về phía đứa con đang cặm cụi bên bàn học: “Có điện, con cái học sẽ tốt hơn. Giờ tối đến là học qua loa, nhiều hôm hết điện tích ở bình là nó đã phải nghỉ”. Không điện, việc tiếp cận thông tin cũng khó khăn. Những thứ tưởng chừng quen thuộc ở miền xuôi như ti vi, mạng internet... ở đây vẫn là điều xa lạ. Người dân không có điều kiện cập nhật kiến thức, không thể áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Không có điện, không có hạ tầng, người dân không thể làm dịch vụ, không thể chế biến nông sản, cũng không thể mở rộng sản xuất. Mọi hoạt động vẫn dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp. Những nỗ lực thoát nghèo vì thế khó tìm được điểm bứt phá. Đáng nói hơn, việc chờ đợi TĐC cũng khiến nhiều chương trình, dự án đầu tư hạ tầng của bản không thể triển khai. Không ít dự án thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia đã phải tạm dừng hoặc chưa thể bố trí do các bản nằm trong diện di dời TĐC.
Rõ ràng, đầu tư vào thì lãng phí, không đầu tư thì người dân tiếp tục thiếu thốn. Cái “kẹt” ấy khiến đời sống người dân bị kéo lùi. Xa Lung hiện có hàng chục hộ đồng bào Mông, 100% là hộ nghèo. Không điện lưới, thiếu nước sinh hoạt và những hạ tầng thiết yếu khác khiến sinh hoạt cộng đồng cũng trở nên rời rạc. Nhiều hộ phải dùng tua-bin nước để phát điện, nhưng chỉ đủ thắp một bóng đèn. Mùa mưa, tua-bin bị cuốn trôi, lại phải gom góp mua cái mới. Vòng lặp thiếu thốn cứ tiếp diễn... Trong câu chuyện chiều hôm đó, nhiều bà con Xa Lung thấy có khách ghé bản, tưởng cán bộ, kéo đến hỏi: Bao giờ bà con được TĐC? Ra TĐC có điện thắp sáng không? TĐC ở chỗ nào?... Những câu hỏi giản dị, nhưng phía sau là mong mỏi rất rõ ràng: một cuộc sống ổn định hơn.
Dự án TĐC cho bản Xa Lung đã được phê duyệt từ năm 2022, với kỳ vọng hoàn thành vào năm 2024, nhưng đến nay vẫn chưa thể triển khai. Không riêng Xa Lung, tình trạng này cũng diễn ra ở nhiều bản vùng biên khác. Khi nơi ở mới chưa thành hình, những “khoảng trống” vẫn tiếp tục kéo dài: trẻ em học trong thiếu thốn; người dân bó hẹp sản xuất; cộng đồng sống trong tình trạng thiếu thông tin, thiếu cơ hội vươn lên. Giấc mơ “an cư”, thoát nghèo vẫn còn đó. Câu hỏi đặt ra: đâu là nguyên nhân khiến việc sắp xếp, ổn định dân cư chưa đạt kỳ vọng, và cần một cách làm như thế nào để tháo gỡ?











