Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026: Phát triển thị trường vốn, tạo nguồn lực cho tăng trưởng hai con số

Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn lực tài chính, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Phát triển thị trường vốn trở thành yêu cầu quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng lớn, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

Nhu cầu vốn lớn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Phiên thảo luận chuyên đề Trung tâm tài chính quốc tế làm thế nào để thu hút dòng vốn toàn cầu

Phiên thảo luận chuyên đề Trung tâm tài chính quốc tế làm thế nào để thu hút dòng vốn toàn cầu

Ngày 27/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 tại TP. Hồ Chí Minh, phiên thảo luận chuyên đề “Trung tâm tài chính quốc tế: Làm thế nào để thu hút dòng vốn toàn cầu” được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh. Phiên thảo luận tập trung vào những giải pháp huy động nguồn lực tài chính, phát triển thị trường vốn, kết nối dòng vốn quốc tế phục vụ tăng trưởng kinh tế.

Tại phiên thảo luận, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, trình bày tham luận “Huy động và phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng cao của Thành phố”, nhấn mạnh yêu cầu huy động đủ nguồn vốn đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Dẫn kinh nghiệm những quốc gia từng duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 10%/năm, TS. Cấn Văn Lực cho biết vốn đầu tư thường tăng bình quân 13–14%/năm, trong khi hiệu quả sử dụng vốn được duy trì ở mức tương đối cao. Điều này cho thấy tăng trưởng nhanh đòi hỏi nguồn lực lớn, nhưng hiệu quả phân bổ vốn mới là yếu tố quan trọng để duy trì tăng trưởng bền vững.

Theo tính toán được chuyên gia trình bày, Việt Nam cần duy trì quy mô vốn đầu tư tương đương khoảng 40% GDP, đồng thời nâng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp lên khoảng 55%. Nhu cầu vốn đầu tư từ nay đến năm 2030 ước khoảng 280–300 tỷ USD mỗi năm, tổng cộng gần 1.500 tỷ USD.

Để đáp ứng nhu cầu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng bình quân khoảng 14%/năm. Trong khi nguồn lực nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20–22%, phần còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân trong nước và quốc tế. Điều đó đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ những kênh huy động vốn, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước hoặc tín dụng ngân hàng.

Đối với TP. Hồ Chí Minh, nhu cầu vốn đầu tư được ước tính chiếm khoảng 22% tổng nhu cầu cả nước. Sau khi mở rộng không gian phát triển, thành phố có thêm lợi thế về công nghiệp, dịch vụ, logistics, kinh tế biển và công nghệ mới, song cũng cần nguồn vốn trung, dài hạn tương xứng để khai thác hiệu quả tiềm năng.

Đáng chú ý, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra sự mất cân đối trong cơ cấu cung ứng vốn khi tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 51% tổng nguồn vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát huy tương xứng vai trò cung ứng vốn trung, dài hạn.

Theo chuyên gia, tỷ lệ dư nợ tín dụng so với GDP của Việt Nam ở mức khoảng 144%. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ này có thể tiến tới khoảng 180% GDP vào năm 2030, tạo thêm áp lực đối với an toàn hệ thống tài chính.

Phát triển thị trường vốn, nâng cao hiệu quả đầu tư

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV phát biểu tại chương trình

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV phát biểu tại chương trình

Từ thực trạng trên, TS. Cấn Văn Lực kiến nghị phát triển mạnh thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và định chế tài chính phi ngân hàng nhằm giảm áp lực cung ứng vốn trung, dài hạn lên hệ thống ngân hàng.

Trong đó, việc nâng hạng thị trường chứng khoán được kỳ vọng mở rộng khả năng thu hút dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, quá trình này cần đi đôi với nâng cao tính minh bạch, chất lượng doanh nghiệp niêm yết, hoàn thiện hạ tầng giao dịch và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.

Chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia, qua đó tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí hợp lý hơn. Đối với Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, cần đẩy nhanh triển khai những hoạt động cụ thể, phát triển sản phẩm tài chính mới, kết nối nguồn lực quốc tế với nhu cầu đầu tư trong nước.

Bên cạnh những kênh huy động truyền thống, TS. Cấn Văn Lực đề cập tiềm năng từ tài chính xanh, thị trường tài sản số và thị trường carbon trên cơ sở hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm quản lý rủi ro. Đồng thời, việc tháo gỡ khó khăn cho những dự án tồn đọng, chậm triển khai sẽ góp phần giải phóng nguồn lực đất đai, tài sản và vốn đầu tư đang bị ách tắc.

Đặc biệt, chuyên gia lưu ý huy động thêm vốn phải gắn với nâng cao hiệu quả đầu tư. Theo nghiên cứu được trình bày, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam trong 5 năm gần đây ở mức trên 6 lần, trong khi mục tiêu giai đoạn tới là giảm xuống khoảng 4,5 lần. Mức này vẫn cao hơn hệ số 3–4 lần của một số nền kinh tế từng đạt tốc độ tăng trưởng cao.

Vì vậy, bên cạnh mở rộng nguồn vốn, Việt Nam cần ưu tiên những dự án có hiệu quả, khả năng tạo giá trị gia tăng và sức lan tỏa lớn; đồng thời hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị, giám sát thị trường tài chính.

Theo TS. Cấn Văn Lực, phát triển thị trường tài chính phải dựa trên nguyên tắc minh bạch, chuyên nghiệp và vận hành theo cơ chế thị trường. Đây là điều kiện quan trọng để huy động, phân bổ nguồn lực hiệu quả, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.

Thạc Hiếu

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/dien-dan-kinh-te-mua-thu-2026-phat-trien-thi-truong-von-tao-nguon-luc-cho-tang-truong-hai-con-so-10440717.html