Điệu chèo hiếu quê hương
Chèo hiếu (hát dân ca trong tang lễ) là một nét văn hoá truyền thống độc đáo của người Tày ở xã Mông Ân, huyện Bình Gia cũ, nay thuộc xã Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn). Bản nhỏ Nà Cướm là một trong những nơi đang lưu giữ vốn di sản văn hoá phi vật thể đặc sắc đó.
Nà Cướm nằm cách trung tâm xã Bình Gia khoảng 20 km về phía Nam. Nơi đây 100% dân số là người Tày mang họ Hoàng sinh sống từ rất lâu đời. Hiện đồng bào ở đây vẫn bảo lưu được nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống của người Tày, trong đó có chèo hiếu hay còn gọi là chèo báo hiếu, báo ân…
Chèo hiếu trong đời sống tinh thần của người Tày

Các nghệ nhân thôn Nà Cướm (xã Bình Gia) trình diễn chèo hiếu
Theo ông Hoàng Văn Thu (74 tuổi) và các thành viên trong đội chèo hiếu của Nà Cướm, chèo ở đây có nghĩa là mái chèo, chỉ động tác chèo thuyền. Chèo hiếu là cách gọi nghi thức hát, múa, kể tích truyện tiễn đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng trong tang lễ gắn với những ý niệm về tâm linh tín ngưỡng. Chèo hiếu tập hợp nhiều “mái chèo” dài, ngắn mang tên gọi khác nhau như: Thập ân, Thập sầu, Tam niên... Mỗi “mái chèo” là một khúc hát bi ai kèm theo các điệu múa mô phỏng nội dung kể về đức độ, công lao của người quá cố cùng những ước mong hồn thiêng siêu thoát, phù hộ, độ trì cho con cháu ở lại bình an, “mát mẻ”.
Theo các nhà nghiên cứu, hát chèo hiếu trong tang lễ là một nét văn hóa truyền thống có từ rất xa xưa. Đồng bào người Kinh và người Tày đều có chung quan niệm: Chèo đò (chèo đưa linh, chèo hiếu…) trong đám tang là nghi lễ tượng trưng cho chuyến đò chở linh hồn người đã khuất về với tổ tiên, nơi miền cực lạc. Linh hồn người chết muốn đi đến miền cực lạc nhẹ nhàng, mau chóng thì phải đi đò. Do đó nảy sinh tục hát chèo hiếu.
Tự bao đời nay, mỗi khi gia đình có ông bà, cha mẹ sống thọ khoảng 70 tuổi trở lên qua đời, người Tày Nà Cướm thường mời đội chèo hiếu trong thôn về thực hiện nghi thức tiễn biệt người quá cố. Họ coi đó là một cách báo hiếu của con cháu đối với những người đã có công dưỡng dục, sinh thành.
Ông Hoàng Văn Thu, người đứng đầu nhóm nghệ nhân chèo hiếu Nà Cướm cho biết: Đội chèo hiếu số lượng đủ thường có 12 hoặc 13 người là nam giới. Trong đó gồm một ông Cái, có thể thêm một ông Cái phụ, một người đập trống và 10 con quân bố trí thành từng cặp khi múa. Tuỳ theo từng trường hợp, số con quân có thể giảm xuống còn 6 hoặc 8 người. Chèo hiếu thường được hát trong đám tang vào lúc đêm khuya thanh vắng. Mỗi khi thực hành nghi lễ, đội chèo hiếu mặc trang phục Tày nam truyền thống, khi ông Cái hát xướng, các con quân vừa đồng ca phụ họa, vừa dùng đạo cụ là các gậy tre múa mô phỏng các “mái chèo” theo nhịp trống. Không chỉ hành lễ ở địa phương, trước đây đội chèo hiếu ở Nà Cướm còn được mời đi làm lễ cho người Tày ở vùng Bắc Sơn (cũ). Đã có lúc chèo hiếu được “sân khấu hoá”, trở thành tiết mục biểu diễn trong các sự kiện chính trị, văn hoá ở xã và khu vực; phục vụ khách du lịch tại địa phương như một loại hình văn nghệ dân gian tiêu biểu, đặc sắc của người Tày Nà Cướm.
Tìm về ngọn nguồn chèo hiếu xứ Lạng
Trong số rất nhiều tư liệu lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm có một cuốn sách Nôm Tày với tên gọi “Chèo ca” (Hát chèo) dày 85 trang, chép năm Bảo Đại thứ 12 (1937) sưu tầm được ở Lạng Sơn đã lâu. Nhận thấy đây là một văn bản quý hiếm, rất có giá trị trong việc nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian, dân tộc học, một nhóm cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã tìm về ngọn nguồn của điệu chèo hiếu Lạng Sơn. Một ngày đầu tháng 5/2026, đoàn cán bộ của Viện đã cùng Hội Văn học nghệ thuật Lạng Sơn tiến hành khảo sát thực địa tại thôn Nà Cướm, xã Bình Gia để nghiên cứu điệu chèo hiếu một cách hệ thống. Đây là nơi tiếp giáp với xã Bắc Sơn - địa bàn sinh sống của người Tày và có cả người Kinh từ vùng xuôi di cư lên, đã “Tày hóa”. Bên nếp nhà sàn Tày, nhóm khảo sát đã được các nghệ nhân cung cấp tư liệu, trình diễn điệu chèo hiếu hiện đang lưu hành ở địa phương. Từ kết quả khảo sát thực địa, đối chiếu với tư liệu chữ Nôm Tày ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các nhà khoa học đã nhận diện, phác thảo đặc trưng của loại hình di sản phi vật thể này của Lạng Sơn một cách chân xác. Theo đó, chèo hiếu của Lạng Sơn là một loại hình diễn xướng dân gian có gốc tích ở miền xuôi. Quá trình cộng cư lâu dài giữa cư dân Tày và Kinh đã diễn ra hiện tượng giao thoa, tiếp biến văn hoá để điệu chèo này du nhập, hiện diện ở vùng đất Mông Ân xưa. Bà Triệu Thị Mai (Đài Tiếng nói Việt Nam) cho rằng: Những người “nghệ sĩ dân gian Tày” đã căn cứ vào bản hát chèo của người Kinh “cải biên điều chỉnh ca từ trên nền giai điệu có sẵn để tạo nên một tác phẩm mang màu sắc, thông điệp, cảm xúc hoàn toàn mới nhằm phù hợp với phong tục tập quán, văn hoá xã hội của người Tày nơi đây”.
Chèo hiếu của Lạng Sơn vừa mang nét chung của chèo hiếu người Kinh, vừa mang nét riêng của chèo hiếu Tày, thể hiện qua ngôn ngữ, cách thức thể hiện. Là một trong những người nghiên cứu chuyên sâu văn bản gốc “Chèo ca”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) cho biết: Sách “Chèo ca” gồm 31 bài hát có nội dung “tiễn đưa người đã khuất về thế giới bên kia một cách trang trọng và thể hiện lòng thành kính, xót thương”. Những bài hát này được sắp xếp theo diễn trình, thời gian của tang lễ từ mở đầu, các bài chèo tế của con, cháu, nội, ngoại, mở quan tài, tế dâng cơm, rượu; tiễn vong… đến trả ơn nội ngoại, cúng giỗ đầu, thôi tang… Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, lời ca chèo hiếu trong tang lễ “chủ yếu bộc lộ tình cảm của người đang sống với người đã khuất như tình cảm vợ với chồng, con cái với cha mẹ, cháu với ông bà, anh chị em, tình làng nghĩa xóm. Trong khi hành lễ, con cháu, người thân sẽ có cơ hội để bộc lộ tâm tư tình cảm của mình thông qua lời ca, câu hát mang tính chất nỗi đau và sự tiếc thương đưa tiễn người đã khuất”. Trong giờ phút đau thương, ly biệt, chèo hiếu như nói hộ tiếng lòng của con cháu với người đã khuất. Những lời ca chèo được sáng tác chủ yếu theo thể thơ lục bát đặc trưng của miền xuôi dễ thuộc, dễ nhớ. Bản chép tay lời ca chèo hiếu bằng chữ Quốc ngữ lưu hành ở Nà Cướm hiện nay chính là bản dịch từ chữ Nôm Tày, đã và đang được đội chèo hiếu của thôn sử dụng để thực hành nghi lễ, truyền dạy cho các thế hệ kế cận. Theo ông Hoàng Hữu Nghị (quê ở Nà Cướm), các đám tang có chèo hiếu trong thôn luôn cuốn hút mọi người tới tham dự, thưởng thức như một loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Gìn giữ cho đời sau
Chèo hiếu là loại hình di sản phi vật thể độc đáo của người Tày Lạng Sơn hiện chỉ còn lưu hành ở Nà Cướm. Đặc điểm, giá trị, ý nghĩa của loại hình di sản này bước đầu đã được các nhà khoa học, cán bộ văn hoá ở trung ương và tỉnh Lạng Sơn làm sáng tỏ tại Hội thảo khoa học “Nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn thông qua các văn bản chép tay, tư liệu Hán Nôm, dân ca, nghi lễ cộng đồng” do cơ quan chuyên môn tổ chức tháng 6/2026 vừa qua. Trên cơ sở đánh giá thực trạng của chèo hiếu hiện nay, giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản cũng đã được đề xuất để chèo hiếu tồn tại, có sức sống lâu bền, phục vụ sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội ở địa phương. Được biết, Hội Văn học Nghệ thuật Lạng Sơn đã và đang phối hợp với nhóm các nhà khoa học xuất bản cuốn sách chuyên khảo về chèo hiếu của Lạng Sơn nhằm lan toả giá trị di sản, cung cấp tư liệu quý, chân xác cho hoạt động nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị di sản của tỉnh.
Chèo hiếu không chỉ đơn thuần là câu hát, điệu múa trong tang lễ. Lắng sâu trong di sản còn là quan niệm về sự sống, cái chết, mối liên hệ giữa người ra đi và người ở lại. Chèo hiếu phản ánh sâu sắc phong tục tập quán của người Tày xứ Lạng, sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người (dân tộc Tày, Kinh) trong quá trình cộng cư. Tình cảm, lòng biết ơn, những lời răn dạy chứa đựng trong các “mái chèo”… là kết tinh những giá trị đạo đức, nhân văn cao cả của người Tày xứ Lạng. Đó mãi là truyền thống, đạo lý để các thế hệ hôm nay tiếp bước, noi theo.
Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/dieu-cheo-hieu-que-huong-5104589.html

