Điều chưa biết về núi Phai Vệ
Núi Phai Vệ nằm bên sông Kỳ Cùng là nét chấm phá đầy ấn tượng tạo nên bức tranh phong cảnh 'Sơn thủy hữu tình' của Xứ Lạng. Trên đỉnh núi cao khoảng 80m, cột cờ Phai Vệ như một biểu tượng thiêng liêng của đất nước ở nơi địa đầu Tổ quốc. Không chỉ là môt thắng cảnh, núi Phai Vệ còn là địa danh gắn với lịch sử, truyền thống văn hiến lâu đời của Lạng Sơn.

Cột cờ Phai Vệ, phường Đông Kinh Ảnh: HOÀNG NHƯ
Núi Phai Vệ (phường Đông Kinh) là một món quà quý thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho Xứ Lạng trong quá trình kiến tạo địa chất. Đó là một quả núi sót nổi lên giữa vùng bình địa rộng lớn ngay bên dòng sông Kỳ Cùng, trong lòng núi có nhiều hang động. Nhiều người ví núi Phai Vệ như một hòn non bộ tô điểm cho cảnh quan Xứ Lạng thêm nên thơ, đẹp đẽ. Người xưa gọi Phai Vệ là núi Tam Thai, đó cũng là tên gọi thường được chép trong các sách địa chí của nước ta thời Nguyễn. Trong địa lý thiên văn, Tam Thai là tên của ba ngôi sao ở đuôi chòm Đại Hùng tinh gồm: Thượng Thai, Trung Thai, Hạ Thai. Trong dân gian, những quả núi có ba ngọn nằm ở ba tầng giống vị trí ba ngôi sao Tam Thai trên bầu trời thường được gọi là núi Tam Thai. Nước ta từng có những rặng núi mang tên Tam Thai được nhiều người biết đến ở Thanh Hóa, Huế, Đà Nẵng… Sách Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) chép về núi Tam Thai ở Lạng Sơn như sau: “Núi Tam Thai: cách châu Thoát Lãng 35 dặm về phía Nam, mạch từ núi Công Mẫu ở phía Đông kéo đến, qua sông Kỳ Cùng, nổi lên 3 ngọn ở phía Đông tỉnh thành”.
Năm 1906, H. Mansuy - nhà địa chất, khảo cổ học người Pháp công tác tại Sở Địa chất Đông Dương đã đến núi Phai Vệ tìm kiếm dấu tích về sự hình thành, phát triển của địa chất và con người ở đây. Trong hang núi, ông ta đã phát hiện một số hóa thạch động vật thời kỳ Hậu kỳ Cánh Tân như: lợn vòi, lợn rừng,... và xác định đó là một trong những di tích cổ sinh ở Đông Dương. Tháng 1 năm 1998, Viện Khảo cổ học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Bảo tàng Tổng hợp Lạng Sơn đã phối hợp nghiên cứu khảo sát tìm kiếm dấu tích cư trú của con người tại các hang động trong lòng núi. Trong cuộc khai quật hang Phai Vệ II tổ chức tháng 4 năm 1998, các nhà Khảo cổ học đã tìm thấy rất nhiều di vật minh chứng cho quá trình cư trú của con người ở đây. Đó là những công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt của người tiền sử gồm: 1 rìu có vai mài nhẵn toàn thân, 9 bàn mài, 4 bàn nghiền, 2 hòn kê, 25 chày nghiền, 25 công cụ ghè đẽo, 28 mảnh gốm thô... Cùng với đó là tàn tich những bữa ăn của họ trong các di tích “đống rác bếp”: 159 vỏ ốc núi, 5.806 vò ốc suối, 41 vỏ hến, 1.252 vỏ trai, 1.714 mảnh xương, 20 răng động vật. Bên cạnh đó còn có 10 mảnh sọ người cho thấy đây có thể là dấu vết của di tích mộ táng. Di chỉ khảo cổ học Phai Vệ được các nhà khảo cổ học đánh giá là bước chuyển tiếp quan trọng trong giai đoạn từ sau Văn hóa Bắc Sơn sang đầu Văn hóa Mai Pha, niên đại khoảng 5000 - 4.500 năm cách ngày nay. Năm 2004, di chỉ Phai Vệ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, trở thành một điểm tham quan du lịch nhiều người biết tiếng.
Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, Phai Vệ là nơi in dấu những sự kiện lịch sử của thời kỳ phong kiến tự chủ. Đó là sự chuyển dịch của trung tâm hành chính từ vùng Quang Lang (Chi Lăng) về Lỵ sở Lạng Sơn hiện nay. Sách Địa chí Lạng Sơn (UBND tỉnh Lạng Sơn xuất bản năm 1999) cho biết, vào thời Trần (thế kỷ XIII), thành Lạng Sơn đã được xây dựng dựa vào chân núi Phai Vệ nên có tên là thành Vệ. Sau do nhận thấy sự bất lợi của địa thế nên đã di dời về phía Nam sông Kỳ Cùng (thuộc địa phận Mai Pha, Châu Ôn), nay là vị trí của di tích Đoàn Thành (phường Lương Văn Tri). Đến năm Thành Thái thứ 3 (1891), Văn miếu Lạng Sơn được xây mới ở khu vực chân núi Phai Vệ, do địa điểm cũ ở Cửa Nam thành Lạng Sơn thuộc khu vực đóng đồn của quân Pháp. Việc tế lễ của Nhân dân trở nên bất tiện nên đã di dời về đây. Văn miếu Lạng Sơn là một trong số không nhiều di tích Nho học ở Việt Nam thờ Khổng Tử - vị thánh của Đạo Nho. Trong văn bia ghi việc xây dựng lại Văn miếu Lạng Sơn lập năm Thành Thái thứ 3 (1891) có viết về nơi dựng Văn Miếu như sau: “Đất ấy phía trước là sông Kỳ Cùng, phía sau là Tam Thai...”. Trong tài liệu “Xã chí Lạng Sơn” do Viện Viễn đông Bác cổ chép năm 1942, hình ảnh Văn miếu, núi Phai Vệ hiện lên như một biểu tượng đẹp về truyền thống Nho học, trọng người hiền tài của đất nước Việt Nam ở vùng biên cương phía Bắc Tổ quốc “Trước Văn Miếu có một cái hồ và sau có một ngọn núi gọi là nghiên bút, là cổ tích...”. Về sau, khi di tích Văn Miếu xuống cấp, hư hỏng, Nhân dân địa phương đã chuyển bát hương vào đặt trong hang núi thờ cúng nên từ đó di chỉ khảo cổ Phai Vệ còn có tên là hang Văn Miếu. Tại đây, trên vách đá còn có một tấm bia ma nhai viết bằng tiếng Pháp ghi mốc thời gian làm đường ở thị xã Lạng Sơn đầu thế kỷ XX:“Năm 1914-1919 làm công trình đường Quốc lộ Vĩnh Trại – Pò Mỏ”.
Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một lần nữa, núi Phai Vệ trở thành “chứng nhân” của lịch sử. Đó là nơi ghi dấu sự kiện Bác Hồ về thăm Lạng Sơn ngày 23/2/1960. Bức ảnh Bác đứng nói chuyện với đồng bào các dân tộc tỉnh tại sân vận động Đông Kinh in hình núi Phai Vệ đã trở thành biểu tượng sáng đẹp mỗi khi nhắc đến tình cảm sâu nặng của Bác đối với Nhân dân Lạng Sơn.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, núi Phai Vệ là nơi lắng đọng lớp lớp trầm tích văn hóa của vùng đất biên cương Xứ Lạng. Cùng với Nhị - Tam Thanh, Đoàn Thành, chùa Thành, đền và bến đá Kỳ Cùng, phố Kỳ Lừa, phố Muối... di tích đã góp phần tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc rất có giá trị đối với phát triển du lịch của tỉnh. Trong tiếng rì rào của sóng nước Kỳ Cùng, rặng núi nhỏ như mãi kể những câu chuyệ̣n về nguồn cội thiêng liêng, về những tháng ngày đã qua của quê hương Xứ Lạng.
Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/nui-phai-ve-dia-danh-lich-su-van-hoa-5085141.html












