Điều đặc biệt của 4 làng nghề Hà Nội lên bản đồ thủ công thế giới
Đầu tháng 3/2026, Hội đồng Thủ công mỹ nghệ Thế giới (WCC) chính thức đưa bốn làng nghề của Hà Nội vào Mạng lưới Thành phố Thủ công mỹ nghệ sáng tạo toàn cầu. Danh sách này gồm Làng gốm Bát Tràng, Làng lụa Vạn Phúc, Làng Chuyên Mỹ và Làng Sơn Đồng.
Những lò gốm không bao giờ tắt
Trong số các làng nghề Việt Nam, hiếm nơi nào có lịch sử sản xuất liên tục như Bát Tràng. Nhiều tài liệu cho rằng nghề gốm tại đây đã hình thành từ thế kỷ XIV, gắn với các dòng họ gốm di cư từ vùng Bồ Bát (Ninh Bình) ra ven sông Hồng.

Nhiều gia đình làm gốm ở Bát Tràng có bí quyết men riêng, không truyền ra ngoài dòng họ.
Điều khiến Bát Tràng khác biệt nằm ở kỹ thuật nung gốm. Trước đây, làng sử dụng những lò rồng dài hàng chục mét, có thể nung hàng vạn sản phẩm trong một mẻ kéo dài vài ngày. Nhiệt độ lò lên tới hơn 1.200°C và người thợ phải liên tục canh lửa, chỉ cần lửa lệch một chút là cả mẻ gốm có thể hỏng.
Một chi tiết thú vị là nhiều nghệ nhân Bát Tràng vẫn giữ thói quen “đọc men”. Họ nhìn lớp men chảy trên bề mặt gốm để đoán nhiệt độ trong lò, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thiết bị đo.

Nghệ nhân Bát Tràng tạo hình gốm trên bàn xoay, một công đoạn đòi hỏi sự ổn định của đôi tay và cảm nhận chính xác về độ ẩm của đất.
Ngày nay, làng gốm này không chỉ sản xuất đồ gia dụng mà còn làm gốm nghệ thuật và sản phẩm thiết kế xuất khẩu. Bảo tàng gốm Bát Tràng, với kiến trúc xoáy như bàn xoay gốm, trở thành điểm dừng chân của nhiều du khách quốc tế.
Vạn Phúc - tấm lụa từng xuất hiện ở châu Âu
Nằm ở quận Hà Đông (cũ), Vạn Phúc được xem là một trong những làng lụa lâu đời nhất Việt Nam, với lịch sử hơn một thiên niên kỷ.
Tài liệu lưu trữ cho thấy lụa Vạn Phúc từng được mang sang Pháp trưng bày tại Hội chợ Marseille năm 1931. Những tấm lụa mỏng, nhẹ và có độ óng đặc trưng đã gây ấn tượng với khách châu Âu thời đó.

Nghệ nhân dệt lụa trên khung cửi gỗ tại làng Vạn Phúc, nơi được xem là cái nôi của lụa Hà Nội.
Lụa Vạn Phúc nổi tiếng nhờ độ mềm và ánh óng đặc trưng. Điểm độc đáo của lụa Vạn Phúc nằm ở kỹ thuật dệt hoa ngay trong sợi vải. Hoa văn không được in lên bề mặt mà hình thành ngay khi dệt, tạo ra các họa tiết nổi nhẹ dưới ánh sáng. Điều này khiến họa tiết có chiều sâu và không bị phai theo thời gian.
Một số nghệ nhân lớn tuổi kể rằng trước kia việc dệt một tấm lụa hoàn chỉnh có thể mất cả tuần. Mỗi khung cửi gỗ phát ra tiếng kẽo kẹt suốt ngày, tạo nên âm thanh quen thuộc của cả làng.

Lụa Vạn Phúc nổi tiếng nhờ độ mềm, nhẹ và độ óng đặc trưng.
Hiện nay Vạn Phúc đã trở thành tuyến phố du lịch với hàng trăm cửa hàng lụa. Tuy nhiên nhiều gia đình vẫn giữ khung dệt truyền thống trong nhà, vừa sản xuất vừa giới thiệu nghề cho khách tham quan.
Những mảnh vỏ trai biến thành tranh
Chuyên Mỹ, thuộc xã Phú Xuyên, được xem là “thủ phủ” của nghề khảm xà cừ ở miền Bắc. Nghề này bắt đầu từ thế kỷ XVII khi các nghệ nhân học kỹ thuật khảm từ cung đình rồi truyền lại cho dân làng. Khác với gốm hay lụa, nghề khảm xà cừ ở Chuyên Mỹ đòi hỏi sự kiên nhẫn cực độ.
Người thợ phải cắt vỏ trai biển thành những mảnh nhỏ, mài mỏng như tờ giấy rồi ghép lên bề mặt gỗ để tạo thành hoa văn. Chỉ cần sai lệch vài milimet, toàn bộ chi tiết phải tháo ra làm lại. Một tác phẩm khảm xà cừ có thể mất hàng tuần hoặc hàng tháng để hoàn thành.

Hoa văn xà cừ được ghép vào gỗ tạo nên hiệu ứng ánh sáng óng ánh đặc trưng.
Ánh sáng óng ánh của xà cừ tạo nên vẻ đặc biệt cho các sản phẩm khảm. Một số mảnh có thể phản chiếu nhiều màu khác nhau tùy theo góc nhìn.
Trước đây, nghề này chủ yếu phục vụ đồ nội thất cổ và đồ thờ. Ngày nay, ngoài đồ thờ và bàn ghế cổ, nhiều nghệ nhân trẻ ở Chuyên Mỹ còn thử nghiệm khảm xà cừ trên tranh nghệ thuật, hộp trang sức, thậm chí cả guitar và đồ trang trí nội thất hiện đại.
Làng “tạc thần” cho chùa Việt
Sơn Đồng, nằm ở Hoài Đức lại nổi tiếng với nghề tạc tượng và đồ thờ. Làng nghề này có lịch sử hơn 800 năm. Phần lớn tượng Phật, tượng Thánh và đồ thờ trong các ngôi chùa miền Bắc đều được chế tác tại đây.

Công đoạn vẽ mắt tượng thường thực hiện cuối cùng, được gọi là “khai quang”.
Quy trình làm một pho tượng truyền thống khá phức tạp. Sau khi tạc hình bằng gỗ mít, nghệ nhân phủ nhiều lớp sơn ta, tiếp đến là dát vàng hoặc bạc. Có những pho tượng cần hàng chục lớp sơn mài trước khi hoàn thiện.
Điều khiến nghề tạc tượng ở Sơn Đồng đặc biệt nằm ở khâu “thổi hồn” cho tượng. Nhiều nghệ nhân cho rằng đôi mắt tượng phải được vẽ sau cùng, vì đó là bước quyết định thần thái của tác phẩm.

Gỗ mít được ưa chuộng vì ít nứt và dễ chạm khắc.
Hiện nay, nhiều xưởng trong làng hoạt động như những “công trường nghệ thuật” nhỏ. Hàng trăm pho tượng lớn nhỏ được đặt khắp sân, chờ hoàn thiện trước khi chuyển tới các chùa, đình, đền khắp cả nước.
Việc bốn làng nghề cùng lúc xuất hiện trong mạng lưới quốc tế vốn chỉ có hơn 70 địa điểm trên toàn thế giới khiến Hà Nội trở thành địa phương duy nhất của Việt Nam đạt được dấu mốc này. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thành phố hiện có khoảng 1.350 làng nghề, trong đó 337 làng nghề đã được công nhận chính thức. Bốn làng nghề vừa gia nhập mạng lưới WCC có thể xem là những đại diện tiêu biểu nhất cho hệ sinh thái thủ công của thủ đô.












