Dinh dưỡng học đường cần được tiếp cận toàn diện
Năm 2025 là lần đầu tiên tỷ lệ trẻ em lứa tuổi học đường mắc thừa cân, béo phì trên toàn cầu vượt tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân. Hiện có khoảng 391 triệu trẻ em từ 5–19 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì.
Trường học là nền tảng quan trọng cho can thiệp dinh dưỡng
Trình bày tham luận tại Hội thảo "Dinh dưỡng học đường – Từ chính sách đến chương trình can thiệp" mới đây, TS. Nguyễn Duy Sơn, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) tại Việt Nam cho biết, năm 2025 là lần đầu tiên tỷ lệ trẻ em lứa tuổi học đường mắc thừa cân, béo phì trên toàn cầu vượt tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân. Hiện có khoảng 391 triệu trẻ em từ 5–19 tuổi bị thừa cân hoặc béo phì.
Tại Việt Nam, cứ 5 trẻ em trong độ tuổi 5–19 thì có 1 em mắc thừa cân hoặc béo phì. Trong khi đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi đã giảm mạnh trong 20 năm qua nhưng vẫn còn ở mức cao, gây ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe, tâm lý và kết quả học tập của trẻ em.

Dinh dưỡng học đường cần được tiếp cận toàn diện.
UNICEF nhận định trường học là nền tảng hiệu quả nhằm cải thiện dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ em. Tại Đông Nam Á, trên 90% trẻ em được đi học ở cấp tiểu học. Dù chỉ khoảng 71% trẻ tiếp tục học ở cấp trung học cơ sở trở lên, đây vẫn là cấp học quan trọng để triển khai các can thiệp dinh dưỡng cho trẻ em và vị thành niên như bữa ăn học đường, nước sạch, bổ sung đa vi chất, giáo dục dinh dưỡng và các hoạt động thể chất.
Theo UNICEF, dinh dưỡng học đường không chỉ là bữa ăn học đường mà cần bao gồm nhiều nội dung khác nhau như: Thực phẩm giàu dinh dưỡng; Môi trường thực phẩm lành mạnh trong và ngoài trường học; Bổ sung đa vi chất và tẩy giun; Giáo dục dinh dưỡng trong trường học; Thực hành dinh dưỡng lành mạnh cho trẻ em tuổi học đường và vị thành niên.
Trong đó, thực phẩm học đường cần bảo đảm đủ dinh dưỡng và đa dạng thực phẩm; an toàn và hạn chế thực phẩm không lành mạnh; phù hợp khẩu vị và văn hóa địa phương; hướng tới tính bền vững và công bằng.
TS. Nguyễn Duy Sơn cho rằng môi trường thực phẩm lành mạnh cần được xây dựng cả trong và ngoài trường học, bao gồm môi trường hỗ trợ lựa chọn lành mạnh, thực phẩm và đồ uống trong trường học, môi trường thực phẩm quanh trường học và môi trường chính sách.
Tổ chức này cũng đặt ra nhiều vấn đề đối với môi trường học đường hiện nay như trường học có thực sự cung cấp thực phẩm lành mạnh hay không, có bán đồ uống có đường trong khuôn viên trường học hay không, có hoạt động giáo dục dinh dưỡng hay có không gian cho học sinh vận động hay không.
Cần xây dựng công cụ đánh giá và giám sát môi trường dinh dưỡng học đường. Một trong những công cụ được giới thiệu là bộ công cụ đánh giá môi trường dinh dưỡng trường học cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương (NEAT-S). Công cụ này hỗ trợ xác định các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở chế độ ăn lành mạnh trong trường học, đồng thời hỗ trợ xây dựng chính sách và can thiệp dinh dưỡng học đường dựa trên bằng chứng.
NEAT-S đã được thử nghiệm tại Việt Nam năm 2022 tại 16 trường tiểu học và THCS ở Hà Nội, Điện Biên, Hà Tĩnh và Sóc Trăng. Kết quả thử nghiệm cho thấy có sự khác biệt rõ giữa trường thành thị và nông thôn về môi trường dinh dưỡng học đường. Trong và quanh trường học vẫn còn bán nhiều thực phẩm không lành mạnh.
Kinh nghiệm xây dựng bữa ăn học đường ở Nhật Bản và Indonesia
TS Nguyễn Duy Sơn chia sẻ thông tin, chương trình bữa trưa học đường tại Nhật Bản bắt đầu từ năm 1889 tại một trường tiểu học tư ở tỉnh Yamagata nhằm hỗ trợ trẻ em nghèo. Từ năm 1932, Bộ Giáo dục Nhật Bản bắt đầu trợ cấp tài chính để mở rộng chương trình trên toàn quốc. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chương trình được khôi phục vào năm 1947 với sự hỗ trợ của UNICEF và các tổ chức cứu trợ quốc tế.
Hiện nay, chương trình được áp dụng tại 99,2% trường tiểu học và 87,9% trường trung học ở Nhật Bản. Tất cả học sinh trong cùng một trường được phục vụ cùng một thực đơn gồm cơm hoặc bánh mì, món chính, món phụ, sữa và tráng miệng.
Thực đơn được xây dựng theo tiêu chuẩn dinh dưỡng nhằm bảo đảm cân bằng giữa tinh bột, protein, chất béo, vitamin và khoáng chất. Học sinh được giáo dục về ý thức ăn uống lành mạnh và hạn chế lãng phí thực phẩm. Tỷ lệ thức ăn thừa chỉ khoảng 6,9%.
ữa ăn học đường tại Nhật Bản còn là một phần của giáo dục kỹ năng sống khi học sinh tự phục vụ, dọn dẹp và ăn cùng nhau trong lớp học.
Một ví dụ khác TS Sơn nêu ra là Indonesia hiện đối mặt đồng thời với nhiều vấn đề dinh dưỡng ở thanh thiếu niên. Khoảng 25% thanh thiếu niên bị thấp còi, 8% gầy còm, trong khi 15% thừa cân hoặc béo phì. Bên cạnh đó, 10% trẻ em nam và 23% trẻ em nữ thiếu máu. Nhiều học sinh bỏ bữa sáng, thường xuyên sử dụng đồ uống có đường và thực phẩm chế biến sẵn, trong khi mức độ hoạt động thể lực thấp.
UNICEF và Chính phủ Indonesia đã triển khai chương trình Aksi Bergizi nhằm kết hợp bổ sung sắt, giáo dục dinh dưỡng và thay đổi hành vi trong trường học thông qua cách tiếp cận đa ngành. Các hoạt động cốt lõi của chương trình gồm bổ sung sắt hàng tuần kết hợp ăn sáng tại trường; giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe theo hướng tương tác; thay đổi hành vi thông qua hoạt động do học sinh dẫn dắt; tiếp cận đa ngành để tăng tính bền vững.
Việc huy động học sinh làm "peer supporters" giúp tăng mức độ tham gia, khả năng lan tỏa thông điệp và duy trì hành vi lành mạnh trong và ngoài trường học. Can thiệp hiệu quả cần kết hợp giáo dục và môi trường hỗ trợ, đồng thời sự cam kết của nhà trường và chính quyền địa phương là yếu tố quyết định hiệu quả và tính bền vững của chương trình.
Sau giai đoạn thí điểm, Chính phủ Indonesia đã đưa Aksi Bergizi vào chương trình sức khỏe trường học quốc gia.
Tại Brazil, Chương trình Bữa ăn Học đường Quốc gia (PNAE) hiện mang lại lợi ích cho khoảng 40 triệu học sinh trường công. Bữa ăn học đường tại Brazil được xem là quyền của trẻ em và được luật hóa. Trong chương trình này, ít nhất 30% thực phẩm phải được mua từ nông hộ gia đình địa phương nhằm hỗ trợ sinh kế và hệ thống thực phẩm bền vững.
Đối với Việt Nam, chuyên gia đề xuất ưu tiên xây dựng hướng dẫn bữa ăn học đường phù hợp với khu vực miền núi, vùng khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số. Tăng cường các biện pháp cải thiện môi trường dinh dưỡng học đường; tiếp tục hoặc mở rộng các can thiệp dinh dưỡng trường học ưu tiên cho trẻ em gái, trẻ em khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực miền núi và vùng khó khăn.
Bên cạnh đó, UNICEF kiến nghị tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Y tế, Bộ GD&ĐT, chính quyền các cấp cùng các ban ngành, đoàn thể địa phương; đồng thời thiết lập hệ thống giám sát và giải trình hiệu quả.











