Đo hiệu quả Nghị quyết 57 bằng giá trị tạo ra cho doanh nghiệp

Sau thời gian triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Bộ Công Thương đang chuyển từ giai đoạn triển khai trên diện rộng sang chú trọng chiều sâu, tập trung vào sản phẩm đầu ra, công nghệ, dữ liệu và khả năng ứng dụng trong thực tế.

Trao đổi với báo chí, ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương), cho biết: để nâng cao hiệu quả thực chất cần đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, nhân lực và khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng.

Thưa ông, ông đánh giá thế nào về những kết quả nổi bật sau thời gian triển khai Nghị quyết 57 trong ngành Công Thương trong thời gian qua?

Theo tôi, kết quả rõ nhất ở đây là Nghị quyết số 57-NQ/TW đã chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ chủ trương sang những nhiệm vụ cụ thể.

Từ đầu năm đến nay, Bộ Công Thương đã nhận được 287 nhiệm vụ liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết 57, trong đó đã hoàn thành 187 nhiệm vụ, đang thực hiện 10 nhiệm vụ trong hạn và 90 nhiệm vụ thường xuyên.

Ngoài ra, công tác xây dựng thể chế cũng được đặc biệt chú trọng, cụ thể là đã ban hành hoặc trình ban hành 17 văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, đối với việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, các cấp có thẩm quyền đã đơn giản hóa, cải cách được hơn 55% các thủ tục hành chính của Bộ Công Thương.

Ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương) cho rằng, thước đo quan trọng của Nghị quyết 57 là đã tạo ra những sản phẩm gì, công nghệ gì và tạo ra giá trị gì cho doanh nghiệp.

Ông Hoàng Ninh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương) cho rằng, thước đo quan trọng của Nghị quyết 57 là đã tạo ra những sản phẩm gì, công nghệ gì và tạo ra giá trị gì cho doanh nghiệp.

Nhưng theo tôi, những kết quả liên quan đến số lượng hay tiến độ thực hiện nhiệm vụ cũng chưa nói hết được những gì Nghị quyết 57 đã đặt ra. Điều cần chú trọng trong thời gian tới là sản phẩm đầu ra là gì, công nghệ là gì, dữ liệu được tạo ra trong quá trình triển khai nhiệm vụ như thế nào và có triển khai được trên thực tế hay không. Đó mới là những kết quả có ý nghĩa thực sự quan trọng.

Cơ cấu mới của Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số hướng tới việc áp dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với tổ chức thực hiện, cũng như ứng dụng, chuyển giao vào thực tiễn.

Thưa ông, trong vai trò đầu mối quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Bộ, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất đang cản trở quá trình này trong ngành Công Thương?

Theo tôi, có 3 điểm nghẽn chính. Thứ nhất là điểm nghẽn thể chế. Công nghệ phát triển rất nhanh, trong khi các quy định, quy trình liên quan đến nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao và ứng dụng vẫn chưa theo kịp thực tế.

Thứ hai là điểm nghẽn nguồn lực và nguồn nhân lực. Nếu không có nguồn lực tập trung đủ lớn, việc triển khai các nhiệm vụ liên quan đến khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ khó đạt hiệu quả. Đồng thời, chúng ta phải có nguồn nhân lực đủ mạnh để tiếp nhận kết quả nghiên cứu, chuyển giao và vận hành.

Thứ ba là điểm nghẽn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng. Doanh nghiệp có thể chưa đủ nhân lực, nguồn lực và hạ tầng để tiếp nhận các sản phẩm hay giải pháp mà các viện, trường đưa ra, dẫn đến việc không thể đưa sản phẩm ra thị trường.

Do đó, cần phải giải quyết đồng thời cả ba điểm nghẽn này thì mới xử lý triệt để được bài toán hiện nay.

Với những điểm nghẽn trên, chúng tôi tập trung vào bốn điểm để tháo gỡ. Giải pháp đầu tiên là tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế, thể chế, cách thức thực hiện những nhiệm vụ được giao, cách thức tổ chức nhiệm vụ khoa học, công nghệ theo hướng tập trung vào những bài toán cần giải quyết, tập trung vào những sản phẩm đầu ra có thể ứng dụng được trên thực tế.

Giải pháp thứ hai là tập trung vào nguồn lực. Thay vì dàn trải, chúng tôi sẽ tập trung vào những nhiệm vụ có khả năng tạo ra những tác động lớn hơn. Trong năm 2026, Bộ Công Thương sẽ tập trung vào 3 - 5 bài toán lớn có giá trị đối với ngành để tạo ra những sản phẩm gắn với công nghệ chiến lược và nâng cấp công nghệ cho doanh nghiệp.

Giải pháp thứ ba là đào tạo nguồn nhân lực. Chúng ta hoàn toàn có thể đặt những đầu bài cho các viện, trường đại học liên quan đến công nghệ, đặc biệt là liên quan đến nguồn nhân lực.

Các doanh nghiệp cần các trường đại học đào tạo sản phẩm, tức là nguồn nhân lực đầu ra như thế nào; trong giáo trình có những nội dung gì liên quan mật thiết đến doanh nghiệp thì hoàn toàn có thể đặt những vấn đề đó đối với các trường đại học.

Ứng dụng robot trên các dây chuyền sản xuất tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông.

Ứng dụng robot trên các dây chuyền sản xuất tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông.

Giải pháp cuối cùng là nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp. Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp, nhưng Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nghiệp bằng những cơ chế, chính sách. Những cơ chế, chính sách này đến từ chính các doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp thấy Nhà nước đang xây dựng những cơ chế, chính sách gì, có những cơ chế, chính sách gì mà mình cần Nhà nước hỗ trợ thì hoàn toàn có thể đề xuất. Từ đó, các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, sẽ tham mưu cho lãnh đạo Bộ trong việc hoàn thiện thể chế, chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thưa ông, để những kết quả nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không dừng ở từng dự án, từng doanh nghiệp hay từng mô hình thí điểm, từ góc độ quản lý nhà nước, Bộ Công Thương cần hoàn thiện những cơ chế, cách thức tổ chức và liên kết như thế nào để thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ và đưa kết quả vào thực tiễn trên quy mô rộng hơn?

Theo tôi, để một kết quả nghiên cứu khoa học có thể đi xa hơn, chúng ta phải tính đến khả năng ứng dụng và nhân rộng ngay từ khi xác định đề bài. Ngay từ đầu, chúng ta phải trả lời được một số câu hỏi như sản phẩm cuối cùng là gì, ai là người sử dụng nó, tiêu chuẩn nào để đánh giá và nếu thành công thì việc nhân rộng như thế nào?

Bên cạnh đó, doanh nghiệp, trong đó có những doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân, cũng cần tham gia sớm hơn vào quá trình xây dựng đề bài, thay vì việc chúng ta chờ đến cuối cùng và nhận kết quả nghiên cứu.

Chúng ta phải tham gia ngay từ việc đặt đề bài như thế nào, xác định nhu cầu, thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm đến thương mại hóa. Theo đó, kết quả mới có thể gắn chặt với những công việc cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Tiếp theo, các viện nghiên cứu, các trường đại học, hay nói cách khác là các nhà khoa học trong mô hình 3 nhà, cung cấp các giải pháp và nguồn nhân lực chất lượng cao để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận các công nghệ đã được triển khai.

Khi một giải pháp được chuẩn hóa, hoàn thiện và có thể áp dụng được cho nhiều doanh nghiệp, nhiều lĩnh vực thì kết quả nghiên cứu mới thực sự tạo ra được tác động rộng rãi đến xã hội. Vì vậy, mối liên kết 3 nhà: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp cũng phải hướng đến mục tiêu cuối cùng là đưa công nghệ vào thực tế và có thể nhân rộng được.

Với chức năng quản lý nhà nước được xác định rõ trong cơ cấu mới, Bộ Công Thương sẽ làm gì trong thời gian tới để gắn nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với ứng dụng, chuyển giao, công nghệ chiến lược và chuyển đổi số; qua đó tạo chuyển biến rõ hơn về năng suất, năng lực cạnh tranh và tăng trưởng của ngành?

Trong thời gian tới, tôi nghĩ quan trọng nhất là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải tạo ra được những kết quả có thể đo đếm được đối với doanh nghiệp cũng như đối với ngành Công Thương.

Các nhiệm vụ cần phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của ngành, trong đó tập trung vào công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược cũng như nâng cấp công nghệ cho doanh nghiệp, chuyển giao và ứng dụng các kết quả nghiên cứu.

Chuyển đổi số phải gắn với dữ liệu, không chỉ đưa các quy trình lên môi trường số mà còn phải kết nối, chia sẻ, khai thác được dữ liệu để phục vụ cho quản trị sản xuất cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Cuối cùng, hiệu quả phải thể hiện được những kết quả rất cụ thể đối với từng doanh nghiệp, ví dụ như có nâng cao được năng suất lao động hay không, có giảm được chi phí của doanh nghiệp hay không, có tạo ra được sản phẩm mới hay không, để từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Vì vậy, trong giai đoạn tới, câu hỏi đặt ra không chỉ là chúng ta đã triển khai được bao nhiêu nhiệm vụ, mà quan trọng hơn là những nhiệm vụ đó đã tạo ra những sản phẩm gì, công nghệ gì và tạo ra giá trị gì cho doanh nghiệp, cũng là cho ngành Công Thương. Tôi cho rằng đó mới là một trong những thước đo quan trọng của Nghị quyết 57 thực sự đi vào cuộc sống.

Trân trọng cảm ơn ông!

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/do-hieu-qua-nghi-quyet-57-bang-gia-tri-tao-ra-cho-doanh-nghiep-post1388919.html