Đô thị khơi xa: Tìm cách 'sống với tính đảo'
Đô thị đảo không đơn giản là một đô thị ven biển được đặt trên một hòn đảo. Tính đảo tạo ra những điều kiện riêng về đất đai, nước, năng lượng, giao thông, sinh thái, sinh kế và khả năng kết nối với thế giới bên ngoài.
Việt Nam đang đứng trước thực tế ngày càng có nhiều đảo chuyển nhanh từ không gian cư trú và sinh kế truyền thống thành các trung tâm du lịch, dịch vụ và đô thị mới. Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo hay Phú Quốc đều có thể gọi là những đô thị đảo, nhưng mỗi nơi lại có một quan hệ khác nhau với biển.
Ở Lý Sơn, biển gắn với ký ức Hoàng Sa và hình tượng người lính biển. Ở Phú Quý, biển là không gian đánh bắt xa bờ, tránh trú bão và duy trì cộng đồng ngư dân. Côn Đảo lại mang một cấu trúc đặc biệt, nơi hệ sinh thái, lịch sử nhà tù và câu chuyện tâm linh cùng tạo nên bản sắc đảo. Phú Quốc có cấu trúc phức tạp hơn, với biển vừa là ngư trường, vừa là hành lang giao thương, không gian cộng cư, vùng tiếp giáp quốc tế và cửa ngõ hướng ra vịnh Thái Lan.
Chính sự khác biệt ấy cho thấy đô thị đảo không thể được xây dựng theo một công thức chung.
Khi biển tổ chức thành phố
Muốn hiểu một đô thị đảo, trước hết cần thay đổi góc nhìn truyền thống. Thay vì xem hòn đảo như một mảnh đất nằm giữa biển, có thể nhìn nó từ chính những tuyến biển đã tạo nên lịch sử của đảo.
Lấy ví dụ một trường hợp tiêu biểu như Phú Quốc thì cách nhìn này đặc biệt có ý nghĩa (1). Nghiên cứu cho thấy Phú Quốc đã nhiều lần thay đổi chức năng từ không gian cư trú, giao lưu hàng hải, lập cư và phòng thủ đến đảo sản vật, đảo chiến lược, đảo du lịch và hiện đang hướng tới một cửa ngõ thương mại, dịch vụ quốc tế. Như vậy lịch sử Phú Quốc có thể được đọc như lịch sử của những lần tái định vị trong các mạng lưới rộng hơn. Biển tạo ra sinh kế, đồng thời cũng tạo ra những tuyến giao thông, những bến nước, cộng đồng cư dân và những quan hệ kinh tế vượt khỏi phạm vi hòn đảo.
Từ đó, nếu biển là yếu tố tổ chức đảo thì cấu trúc đô thị cũng cần được hình thành từ giao diện đất và nước. Các trục đô thị, không gian công cộng, bến cảng, tuyến giao thông, cảnh quan và các trung tâm dịch vụ cần được nhìn trong quan hệ với mặt biển, hướng gió, địa hình, các đảo vệ tinh và những tuyến kết nối hàng hải. Một đô thị đảo vì thế không nên chỉ có “view biển”, trái lại cần nhấn mạnh vào một cấu trúc hướng biển.

Một thành phố sống cùng biển cần đồng thời sống cùng những cộng đồng đã làm nên lịch sử của biển. Trong ảnh: làng chài Trần Phú ở Phú Quốc. Ảnh: Lý Tuấn Ngọc
Đây chính là khác biệt giữa sử dụng biển như một bất động sản và coi biển là một thành phần của đô thị. Trong trường hợp thứ nhất, bờ biển dễ bị chia thành những khu nghỉ dưỡng khép kín, mỗi dự án có cách tiếp cận riêng. Trong trường hợp thứ hai, biển trở thành không gian công cộng, hạ tầng giao thông, cảnh quan, sinh thái và ký ức của thành phố.
Phú Quốc đang đứng trước ngã rẽ của sự lựa chọn. Một nghiên cứu gần đây về đảo đề xuất nhìn Phú Quốc như một “thành phố của các cửa ngõ”, trong đó sân bay, cảng biển, mạng lưới đô thị và các đảo vệ tinh tạo thành một hệ thống, thay vì những điểm phát triển rời rạc. Dương Đông có thể giữ vai trò trung tâm hành chính và thương mại; An Thới trở thành cực kinh tế biển, du lịch và kết nối quốc tế; sân bay là cửa ngõ hàng không; các cảng và bến biển đảm nhận những chức năng giao thương và kết nối trên mặt nước.
Từ đây, một chuyển đổi quan trọng cũng đang diễn ra trong cách hình dung nền kinh tế của đảo. Phú Quốc có thể đi từ “visitor economy” (kinh tế du khách), nơi khách đến, lưu trú, tiêu dùng rồi rời đi, sang “flow economy” (kinh tế luồng), nơi đảo tham gia vào các dòng người, hàng hóa, vốn, tri thức, sự kiện và dịch vụ, thể hiện một bước chuyển từ thành phố của điểm đến sang thành phố của kết nối.
Thế giới quy hoạch đô thị đảo ra sao?
Singapore là một trường hợp đáng tham khảo dù Phú Quốc không nên được đặt mục tiêu trở thành “Singapore thứ hai”. Bài học Singapore nằm ở cách một quốc gia đảo nhìn nhận giới hạn về đất đai và biển như một bài toán quy hoạch tổng thể (2). Quy hoạch dài hạn của Singapore cân bằng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời tính toán hạ tầng và nguồn lực đi cùng tốc độ phát triển. Thành phố được nhìn trong những chu kỳ dài thay vì chỉ qua từng dự án riêng lẻ.
Đặc biệt, Singapore ngày càng đưa hệ thống xanh và xanh biển vào trung tâm quy hoạch. Các không gian xanh, mặt nước, hành lang sinh thái, công viên và vùng ven biển được kết nối thành một hệ thống có nhiều chức năng như bảo tồn, giải trí, quản lý nước, tăng khả năng chống chịu khí hậu và nâng cao chất lượng sống. Những đánh giá sinh thái dựa trên cơ sở khoa học cũng được sử dụng để định hướng phát triển đất đai.
Cách Singapore xử lý bờ biển cũng đáng chú ý. Các giải pháp bảo vệ bờ được tính cùng với quy hoạch dài hạn thay vì xem hạ tầng chống ngập là một lớp kỹ thuật tách biệt. Những ý tưởng như Long Island kết hợp bảo vệ bờ, an ninh nguồn nước, tạo thêm đất và hình thành các không gian công cộng ven biển. Một số công trình bảo vệ bờ được tính toán để đồng thời trở thành công viên, đường dạo hoặc không gian sinh hoạt cộng đồng. Quan điểm này cho thấy một thay đổi quan trọng trong tư duy đô thị đảo, nhấn mạnh hạ tầng, sinh thái và không gian công cộng có thể được thiết kế như một hệ thống.

Dự án Long Island ở bờ Đông Singapore nhằm bảo vệ đường bờ biển. Ảnh: Christian Chen
Singapore cũng chủ động “sống với tính đảo” của mình. Các đảo ngoài khơi được xem xét cùng mạng lưới đô thị, giao thông, thiên nhiên và du lịch; những vùng biển và bờ biển được mở ra cho các hoạt động giải trí, thể thao, giáo dục và trải nghiệm thiên nhiên, trong khi các giá trị sinh thái và cảnh quan vẫn được bảo vệ.
Ngược lại, Malé của Maldives cho thấy một mặt khác của đô thị đảo. Khi dân số và nhu cầu đô thị tập trung quá mạnh trên một diện tích đất nhỏ, biển trở thành giới hạn vật lý ngày càng rõ rệt. Việc mở rộng không gian đô thị ra biển có thể giải quyết một phần áp lực đất đai nhưng đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn về môi trường, khí hậu, hạ tầng và khả năng chống chịu.
Hai trường hợp này gợi ra hai bài học đối lập nhưng bổ sung cho nhau. Một bên cho thấy năng lực quy hoạch dài hạn có thể biến giới hạn của một quốc gia đảo thành động lực cho đổi mới đô thị. Bên kia nhắc rằng sức chứa của đảo luôn hữu hạn và mỗi quyết định mở rộng đều có cái giá sinh thái, hạ tầng và xã hội. Với đô thị đảo, câu hỏi về sức chịu tải vì thế cần xuất hiện trước câu hỏi về quy mô phát triển.
Phú Quốc và bài toán đô thị đảo Việt Nam
Phú Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển có quy mô chưa từng có. Hạ tầng hàng không, cảng biển, tàu điện, du lịch, thương mại, dịch vụ và đô thị đang cùng tạo ra một bản đồ mới cho đảo. Những kết nối mới trên bầu trời đang bổ sung cho những hải trình từng tạo nên lịch sử Phú Quốc. Nghiên cứu về tầm nhìn phát triển của đảo vì thế đề xuất chuyển từ kinh tế điểm đến sang nền kinh tế của các dòng lưu chuyển, với hàng không, hàng hải và mạng lưới đô thị được tổ chức như một chỉnh thể. Nhưng tốc độ phát triển cũng đặt ra một số câu hỏi khó.
Trước hết là diện mạo đô thị. Phú Quốc đang có nhiều dự án lớn được phát triển bởi những chủ đầu tư khác nhau. Mỗi dự án mang một ngôn ngữ kiến trúc, cảnh quan và cách tổ chức không gian riêng. Sự đa dạng này tự thân vốn không phải vấn đề. Vấn đề xuất hiện khi những ngôn ngữ riêng lẻ không được kết nối bởi một nguyên tắc chung ở cấp độ toàn đảo. Khi đó đô thị dễ trở thành tập hợp của những thế giới riêng biệt thay vì một thành phố có diện mạo thống nhất.

Phú Quốc đang bước vào giai đoạn phát triển có quy mô chưa từng có.
Một đô thị đảo có thể cho phép nhiều phong cách kiến trúc cùng tồn tại nhưng vẫn cần một cấu trúc chung về không gian công cộng, cảnh quan, chiều cao, mật độ, vật liệu, trục nhìn, tiếp cận mặt nước và quan hệ với địa hình tự nhiên. Bản sắc đô thị khi ấy không nằm ở việc mọi công trình phải giống nhau mà nằm ở khả năng để những công trình khác nhau cùng kể câu chuyện về một hòn đảo.
Đây cũng là lúc nguyên tắc “hướng biển” cần được cụ thể hóa. Các trục đô thị có thể kết thúc ở mặt nước, những hành lang nhìn cần mở ra mũi đất, đảo và đường chân trời, các không gian công cộng cần kết nối với bến nước, giao thông cần tạo ra quan hệ thuận tiện giữa sân bay, đô thị, cảng và các đảo. Quan trọng hơn, khả năng tiếp cận biển của cộng đồng cần được bảo đảm để bờ biển không dần biến thành một chuỗi không gian khép kín phía sau những dự án nghỉ dưỡng.
Thứ hai là câu chuyện APEC 2027 - sự kiện quốc tế có thể trở thành cú hích quan trọng cho Phú Quốc. Nhưng giá trị của APEC 2027 sẽ được nhìn rõ hơn sau khi sự kiện kết thúc. Khi những đoàn khách quốc tế rời đảo, các công trình và hạ tầng ấy sẽ phục vụ ai, hoạt động kinh tế nào và đời sống đô thị nào?
APEC 2027 vì thế nên được xem như một mốc để tăng tốc những năng lực mà Phú Quốc sẽ cần trong nhiều thập niên sau đó như giao thông, dịch vụ quốc tế, không gian công cộng, hạ tầng số, khả năng tổ chức sự kiện, kinh tế biển và mạng lưới đô thị. Khi ấy, đầu tư cho APEC sẽ trở thành đầu tư cho thành phố thay vì chỉ đầu tư cho một sự kiện.
Thứ ba, và có lẽ sâu xa nhất, là câu hỏi về cư dân địa phương. Một đô thị mới có thể tạo ra nhiều giá trị đất đai, du lịch và dịch vụ, nhưng ai có quyền tham gia quá trình tạo ra giá trị ấy và ai được hưởng lợi từ nó? Khi đất đai tăng giá, các dự án lớn xuất hiện và sinh kế truyền thống thay đổi, người dân địa phương có thể đứng trước nguy cơ bị đẩy ra khỏi chính không gian mà họ đã tạo dựng qua nhiều thế hệ.
Với Phú Quốc, câu chuyện này càng đáng chú ý bởi lịch sử của đảo vốn gắn với những cộng đồng cư trú, nghề biển, nước mắm, hồ tiêu, vận tải và các mạng lưới trao đổi hàng hóa ngay từ thời đại đồ sắt. Những lớp sinh kế ấy đã góp phần tạo nên chính giá trị mà nền kinh tế du lịch hôm nay đang khai thác. Nghiên cứu về Phú Quốc cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa biển, rừng, đất và các mạng lưới lao động, cho thấy những sản phẩm như nước mắm là kết quả của cả một hệ sinh thái và cộng đồng nghề nghiệp.
Bởi vậy, phát triển đô thị đảo cần đặt ra khái niệm quyền phát triển bên cạnh quyền sở hữu đất đai. Một số công cụ như TDR (transferable development rights - chuyển giao quyền phát triển) có thể được nghiên cứu như một phương án điều tiết lợi ích giữa những khu vực cần bảo tồn, những nơi có khả năng phát triển cao và cộng đồng địa phương. TDR không phải lời giải duy nhất song mở ra một cách nghĩ đáng chú ý khi mà giá trị phát triển có thể được phân bổ lại thông qua quy hoạch thay vì để toàn bộ lợi ích của quá trình đô thị hóa tập trung vào những vị trí có khả năng khai thác đất đai cao nhất.
Xa hơn, cần tính đến những cơ chế để cư dân địa phương tiếp tục có chỗ ở, tiếp tục có sinh kế và có cơ hội tham gia vào nền kinh tế mới. Người dân đảo có thể chuyển từ đánh bắt sang dịch vụ, từ sản xuất sang du lịch, từ nghề truyền thống sang những ngành nghề mới. Nhưng quá trình chuyển đổi ấy cần diễn ra với sự tham gia của chính cộng đồng. Đây là lúc khái niệm “đô thị đảo” vượt khỏi phạm vi kiến trúc và cảnh quan. Một thành phố sống cùng biển cần đồng thời sống cùng những cộng đồng đã làm nên lịch sử của biển.
Phú Quốc có một lợi thế đặc biệt bởi lịch sử của đảo đã nhiều lần chứng minh khả năng chuyển đổi. Từ cư trú, hàng hải, sản vật, phòng thủ đến du lịch, mỗi giai đoạn đều tạo ra một chức năng mới cho đảo. Giai đoạn hiện nay có thể tiếp tục là một lần chuyển đổi, từ nền kinh tế du lịch sang một nền kinh tế rộng hơn của các dòng người, hàng hóa, vốn, tri thức và dịch vụ.
Tuy nhiên, lần chuyển đổi này cần một nguyên tắc rõ ràng, phát triển thêm không đồng nghĩa với xây dựng thêm bằng mọi giá. Phú Quốc có thể học Singapore ở năng lực quy hoạch dài hạn, khả năng tích hợp hàng không, cảng biển, đô thị và sinh thái. Nhưng nguồn lực để Phú Quốc trở thành một đô thị quốc tế phải đến từ chính hòn đảo với những đặc trưng như hệ sinh thái biển và rừng, lịch sử hải thương, cộng đồng cư dân, nghề truyền thống, vị trí tại Vịnh Thái Lan và vai trò cửa ngõ của Việt Nam.
Một đô thị đảo có căn cước nên bắt đầu từ những điều kiện riêng của hòn đảo như địa hình, hệ sinh thái, lịch sử cư trú, nghề nghiệp, ký ức cộng đồng, những tuyến biển từng kết nối nó với thế giới và những khả năng kết nối mới đang mở ra. Nhờ vậy cũng là cách ta mở rộng nội hàm của đô thị đảo như một mô hình đô thị trong đó biển tham gia vào cấu trúc không gian, kinh tế, xã hội và văn hóa của thành phố. Quy hoạch, do đó, phải tính cả phần đất và phần nước, cả cư dân hiện tại và những dòng người tương lai, cả thời điểm tăng trưởng và những năm tháng sau đó.
TS. Phạm Minh Quân - Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
__________________
(1) Adam Grydehøj (2015) cho rằng “tính đảo” trở thành một yếu tố chủ động định hình quá trình đô thị hóa, thay vì chỉ là điều kiện địa lý. Nguồn: Grydehøj, A. (2015). Island city formation and urban island studies. Area, 47(4), 429 - 435.
(2) Khái niệm “blue urbanism” (đô thị xanh biển) của Timothy Beatley đề xuất một cách nhìn rộng hơn về quan hệ giữa đô thị và đại dương, ở đó thành phố ven biển cần đưa “sức khỏe” của biển vào chính sách, quy hoạch và đời sống đô thị. Nguồn: Beatley, T. (2014). Blue urbanism: exploring connections between cities and oceans. Island Press.
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/do-thi-khoi-xa-tim-cach-song-voi-tinh-dao-54029.html
