Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh thảo luận tại tổ về 4 dự án luật
Sáng 9/4, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ Nhất, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về Dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi); Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý; Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Bắc Ninh có 6 đại biểu tham gia góp ý nhiều nội dung của các dự án luật.

Đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau chủ trì phiên thảo luận tổ 8 (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau và tỉnh Bắc Ninh) sáng 9/4.
Tham gia ý kiến vào Dự thảo Luật Hộ tịch (sửa đổi), Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh Trần Văn Tuấn khẳng định việc sửa đổi Luật nhằm bảo đảm sự thống nhất đồng bộ của hệ thống pháp luật, đẩy mạnh phân cấp phân quyền, khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hộ tịch năm 2014 và phù hợp với việc tổ chức sắp xếp tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp, đẩy mạnh chuyển đổi số để đáp ứng yêu cầu của người dân.
Góp ý cụ thể vào khoản 2 Điều 7 về thẩm quyền đăng ký hộ tịch, đại biểu cho rằng cần giao Chính phủ quy định rõ phạm vi ủy quyền theo hướng ủy quyền ký tất cả các giấy tờ hộ tịch, đồng thời xem xét quy định điều kiện thực hiện ủy quyền bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện.

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh Trần Văn Tuấn phát biểu thảo luận tại tổ sáng 9/4.
Về việc đăng ký khai sinh và thay đổi thông tin hộ tịch (Điều 15, 19 dự thảo Luật), theo đại biểu chưa có sự thống nhất giữa các quy định pháp luật. Cụ thể, trong Điều 26 và Điều 28 của Bộ Luật dân sự không thống nhất trong trường hợp vợ hoặc chồng đề nghị thay đổi thành tên nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân. Do đó, việc dẫn chiếu từ Điều 15 và Điều 19 dự thảo Luật Hộ tịch sẽ gặp khó khăn trong triển khai thực hiện. Đề nghị sửa đổi quy định tại Bộ Luật dân sự cho phù hợp.
Nội dung về quê quán (tại khoản 8, Điều 2) giải thích từ ngữ, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Trần Văn Tuấn cho rằng cần làm rõ thế nào là “quê quán” và tiêu chí cụ thể để xác định quê quán là gì. Nếu không xác định được tiêu chí cụ thể thì sẽ gây khó khăn đối với cá nhân khi đăng ký hộ tịch cũng như các cơ quan quản lý nhà nước.

Đại biểu Leo Thị Lịch phát biểu thảo luận tại tổ.
Đóng góp vào Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), đại biểu Leo Thị Lịch đánh giá cao tính công phu và đột phá của dự thảo trong việc thúc đẩy chuyển đổi số và minh bạch hóa thông tin.
Về đầu mối cung cấp thông tin của UBND các cấp, dự thảo Luật không quy định cố định là cơ quan Văn phòng như Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 hiện hành, mà đã giao cho UBND các cấp quyết định để bảo đảm sự chủ động trong thực hiện. Dự thảo Luật đã bổ sung nguyên tắc tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số, đa dạng hóa các hình thức cung cấp thông tin kết hợp giữa phương thức truyền thống và công nghệ số để người dân tiếp cận nhanh nhất và tiết kiệm chi phí. Đại biểu cho rằng đây là điểm tích cực rất đáng ghi nhận trong thời đại công nghệ số hiện nay.
Đại biểu đề xuất Chính phủ, trực tiếp là Bộ Tư pháp hoàn thiện hơn dự thảo Luật, đó là làm rõ hơn, cụ thể hơn nữa việc xác định thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây “nguy hại đến lợi ích Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia…”, bởi trong thực tiễn đây là vấn đề mà nhiều địa phương, đơn vị còn lúng túng khi thi hành.
Cùng với đó, Luật cũng mang tính nhân văn sâu sắc khi quy định rõ trách nhiệm thực hiện các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu bổ sung thêm một số nhóm đối tượng yếu thế khác (như người cao tuổi, trẻ em, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn …) được hưởng ưu đãi, hỗ trợ khi tiếp cận thông tin, để chính sách ưu đãi bao phủ toàn diện đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội.

Đại biểu Trần Văn Đăng phát biểu thảo luận tại tổ.
Góp ý kiến vào dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi) đại biểu Trần Văn Đăng cho rằng về giao dịch công chứng tại khoản 2 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 3 Luật Công chứng quy định theo hướng thu hẹp phạm vi giao dịch bắt buộc phải công chứng. Đồng thời bảo đảm không xung đột, chồng chéo với các luật chuyên ngành và kịp thời mở rộng phạm vi các giao dịch được công chứng tự nguyện khi đáp ứng đủ điều kiện về hạ tầng kỹ thuật và hệ thống cơ sở dữ liệu.
Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét việc sử dụng đồng thời các thuật ngữ “mua bán” và “chuyển nhượng”. Về bản chất, hai khái niệm này đều là hình thức chuyển giao quyền sở hữu, sử dụng tài sản. Khoản 1 Điều 3 đang hướng đến các giao dịch phải công chứng là bất động sản. Do vậy, đề nghị thống nhất sử dụng một thuật ngữ là “giao dịch chuyển nhượng”. Đề nghị cần giao Chính phủ quy định cụ thể đối với các giao dịch khác có tính chất quan trọng, đòi hỏi điều kiện tham gia chặt chẽ và mức độ an toàn pháp lý cao.
Về bổ nhiệm công chứng viên, tại khoản 4 Điều 1 sửa đổi, bổ sung Điều 13 Luật Công chứng. Đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc việc có cần thiết quy định cụ thể “nơi hoàn thành tập sự” hay không. Để tạo thuận lợi, có thể quy định Chủ tịch UBND tỉnh nơi người đó cư trú hoặc sinh sống bổ nhiệm hoặc là có thể quy định là thẩm quyền bổ nhiệm công chứng viên là Chủ tịch UBND tỉnh không cần phải ghi cụ thể là nơi hoàn thành tập sự hoặc nơi sinh sống cư trú.
Về hồ sơ yêu cầu công chứng ( khoản 11 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 42 Luật Công chứng) đại biểu Trần Văn Đăng đề nghị bổ sung “phiếu yêu cầu công chứng” vào thành phần hồ sơ. Quy định này giúp cơ quan quản lý khi kiểm tra hoạt động của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng có cơ sở đánh giá việc thực hiện quy định pháp luật về thủ tục hành chính, thời gian giải quyết và thành phần hồ sơ.
Đối với việc thành lập văn phòng công chứng theo loại hình doanh nghiệp tư nhân, đề nghị quy định trong luật hoặc giao Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích thành lập tổ chức hành nghề công chứng tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; đồng thời cho phép chuyển đổi trụ sở sau một thời gian hoạt động nhất định (khoảng 3 - 5 năm) sang địa bàn thuận lợi hơn.

Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh Trần Thị Vân phát biểu thảo luận tại tổ.
Đóng góp về phạm vi điều chỉnh (Điều 1) của dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh Trần Thị Vân nêu: Dự thảo Luật quy định phạm vi điều chỉnh đến “việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu”.
Đại biểu cho rằng, quy định này vẫn còn chưa bao quát đầy đủ các chủ thể trên thực tế đang nắm giữ, tạo lập và cung cấp lượng lớn thông tin có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân. Đặc biệt, là doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp được giao thực hiện nhiệm vụ công; các tổ chức cung cấp dịch vụ công ích (điện, nước, viễn thông, vận tải công cộng…); một số tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước hoặc tài sản công. Đại biểu đồng tình với ý kiến trong báo cáo giải trình là: “Các doanh nghiệp này thực hiện về công khai thông tin, cung cấp thông tin theo yêu cầu theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp …”.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các quy định này để cho rằng không cần thiết mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Tiếp cận thông tin thì vẫn là chưa đầy đủ và chưa thực sự thuyết phục. Pháp luật doanh nghiệp và Luật Tiếp cận thông tin có mục tiêu khác nhau: pháp luật doanh nghiệp chủ yếu phục vụ quản trị và nhà đầu tư, trong khi Luật Tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của công dân và thiết lập cơ chế yêu cầu - cung cấp thông tin.
Bên cạnh đó, phạm vi thông tin công khai theo pháp luật doanh nghiệp còn hạn chế, chưa bao quát các thông tin thiết yếu đối với người dân như giá, chất lượng dịch vụ công ích, tác động môi trường, an sinh xã hội. Đại biểu đề nghị quy định theo hướng các doanh nghiệp, các tổ chức có sử dụng ngân sách, tài sản công hoặc thực hiện nhiệm vụ công cũng là chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời bảo đảm không xâm phạm bí mật kinh doanh.
Cũng trong phiên thảo luận tổ sáng nay, các đại biểu đã đóng góp nhiều ý kiến vào các dự án luật. Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi); đại biểu Phạm Văn Thịnh đóng góp về hiệu lực thi hành trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.











