Doanh nghiệp gỗ lao đao vì vướng mắc thủ tục nhập khẩu và thuế VAT

Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, những vướng mắc trong xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và xử lý thuế VAT đang khiến doanh nghiệp phát sinh chi phí, tồn đọng vốn và gặp khó trong kế hoạch sản xuất...

Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Ảnh minh họa.

Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Ảnh minh họa.

Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt khoảng 17,2 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm trước, đưa ngành tiếp tục nằm trong nhóm 8 ngành hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD của Việt Nam, khẳng định vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và thương mại. Năm 2025, trong tổng xuất siêu khoảng 21 tỷ USD của cả nền kinh tế, riêng ngành gỗ và nội thất đóng góp gần 14 tỷ USD, tương đương khoảng 2/3 tổng thặng dư thương mại của cả nước. Đây là nguồn đóng góp quan trọng cho cân bằng thương mại, tạo nguồn ngoại tệ và bảo đảm an ninh kinh tế.

VƯỚNG TỪ HỒ SƠ NHẬP KHẨU ĐẾN THUẾ

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2024, Việt Nam nhập khẩu khoảng 2,81 tỷ USD gỗ và sản phẩm gỗ, trong đó nguyên liệu gỗ chiếm gần 2,4 tỷ USD, tương đương 85,2% tổng giá trị nhập khẩu của nhóm hàng này. Khi nguyên liệu đầu vào gặp vướng mắc về hồ sơ, thông quan hoặc chính sách thuế, tác động có thể lan sang kế hoạch sản xuất và thực hiện đơn hàng xuất khẩu.

Tại hội thảo "Thuế giá trị gia tăng gỗ nguyên liệu và gỗ sơ chế: Vướng mắc thực tiễn và giải pháp tháo gỡ", do Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) tổ chức ngày 14/10/2026, ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch HAWA, cho biết một trong những vấn đề nổi cộm nhất mà doanh nghiệp xuất khẩu gỗ đang gặp phải là chứng minh gỗ nhập khẩu có nguồn gốc từ rừng trồng để xác định chính sách thuế áp dụng. Tuy nhiên, cách phân loại gỗ tại Việt Nam không phải lúc nào cũng tương ứng với hệ thống chứng từ và cơ quan xác nhận tại nước xuất khẩu.

Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch HAWA, phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Hawa.

“Tiêu chí nào để chứng minh đây là gỗ nhập khẩu rừng trồng? Chứng từ gồm có 1, 2, 3, 4, 5 là những gì? Cần phải nói cho rõ”, ông Mẫn nêu vấn đề; đồng thời cho biết doanh nghiệp có thể cung cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), chứng nhận kiểm dịch thực vật (Phyto) và các tài liệu liên quan, nhưng vẫn có trường hợp hồ sơ chưa được chấp nhận hoặc phải bổ sung giải trình. Một số quốc gia không có cơ quan hoặc cách phân loại tương ứng với yêu cầu xác nhận nguồn gốc mà doanh nghiệp được hướng dẫn thực hiện tại Việt Nam. Việc yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự trong những trường hợp này có thể khiến thủ tục kéo dài, trong khi hàng hóa đã cập cảng".

Vướng mắc không chỉ nằm ở việc chứng minh nguồn gốc gỗ rừng trồng. Mặc dù đã có những thông báo, chia sẻ từ cơ quan quản lý nhà nước như Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhưng cách hiểu chưa thống nhất về “gỗ sơ chế thông thường” giữa các đơn vị liên quan như hải quan, thuế và các địa phương đang khiến doanh nghiệp khó xác định cách kê khai thuế và nhập khẩu nguyên liệu. Những trường hợp gỗ đã cưa, xẻ, sấy, ngâm tẩm hoặc bảo quản nhưng chưa bào trơn có hướng dẫn rõ hơn về phân loại.

Theo ông Mẫn, nguyên nhân xuất phát từ việc chưa có định nghĩa rõ ràng, thống nhất cho một số khái niệm về nguyên liệu nhập khẩu gỗ giữa các đơn vị liên quan, dẫn đến việc vận dụng chính sách không thống nhất giữa các địa phương. Hệ quả là doanh nghiệp muốn tuân thủ đúng pháp luật, chấp hành nghĩa vụ thuế nhưng vì thiếu hướng dẫn rõ ràng nên chưa đóng thuế đúng hạn, dẫn đến nguy cơ vi phạm pháp luật. Ngược lại, có những trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế nhưng thực tế không thuộc diện phải nộp, đến khi làm thủ tục xin hoàn lại tiền thuế thì gặp rất nhiều khó khăn. Vấn đề cứ luẩn quẩn ở khâu đó.

Ông Tô Ngọc Ngời, Phó Chủ tịch HAWA, cho biết qua tổng hợp phản ánh của các doanh nghiệp hội viên, những vướng mắc tập trung vào năm nhóm: hồ sơ xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu; phân loại gỗ sơ chế thông thường; xử lý thuế đã nộp tại khâu nhập khẩu; hóa đơn đầu vào và hồ sơ hoàn thuế; cùng cách áp dụng thuế đối với phụ phẩm, viên nén và nguyên liệu dùng chung cho nhiều thị trường.

Trong đó, hai nhóm đầu có mối liên hệ trực tiếp với việc xác định chính sách thuế tại khâu nhập khẩu. Doanh nghiệp cần biết loại chứng từ nào được chấp nhận, cơ quan nào có thẩm quyền xác nhận tại nước xuất khẩu và trường hợp nào phải thực hiện xác thực tài liệu. Với gỗ đã qua sấy, ngâm tẩm hoặc bảo quản, cần làm rõ công đoạn xử lý nào ảnh hưởng đến việc phân loại sản phẩm.

Một vấn đề khác phát sinh khi doanh nghiệp đã nộp VAT tại khâu nhập khẩu, nhưng sau đó gặp khó khăn khi đề nghị khấu trừ hoặc hoàn thuế. "Có trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế VAT 8% tại hải quan, nhưng khi đề nghị xử lý khoản thuế này lại gặp vướng mắc do cách xác định hàng hóa có thuộc đối tượng chịu thuế hay không. Khoản tiền đã nộp tiếp tục chờ giải quyết, ảnh hưởng đến vốn lưu động của doanh nghiệp", ông Ngời nêu thực tế.

Là một trong những doanh nghiệp đang chịu nhiều thiệt hại từ chính sách chưa thống nhất, ông Nguyễn Liêm, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA), Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Lâm Việt, cho biết các vướng mắc nêu trên đang cùng xuất hiện trong một chuỗi giao dịch.

“Lâm Việt nhập khẩu gỗ từ Costa Rica, Panama và Colombia, có chứng nhận FSC cùng các tài liệu về nguồn gốc do phía nước xuất khẩu cung cấp. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn gặp khó khi hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu xác thực, trong khi việc tìm đầu mối thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự ở một số quốc gia không thuận lợi", ông Liêm chia sẻ; đồng thời cho biết nộp thuế VAT nhập khẩu thì cơ quan Thuế nói đây là hàng hóa không trong diện chịu thuế, do đó nộp thuế là sai. Nhưng ở Hải quan, không nộp thuế thì không được thông quan.

Ông Nguyễn Liêm, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA), Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Lâm Việt, chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: Hawa.

Ông Nguyễn Liêm, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA), Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Lâm Việt, chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: Hawa.

Theo thông tin doanh nghiệp trình bày tại hội thảo, Lâm Việt hiện có ba lô hàng, gồm 17 container gỗ tròn teak FSC, bị lưu tại cảng gần một tháng; chi phí lưu container được doanh nghiệp nêu là hơn 500 triệu đồng. Khoản thuế đã nộp từ các lô hàng trước chưa được xử lý, trong khi những lô hàng tiếp theo tiếp tục phát sinh vướng mắc về hồ sơ và thông quan. Tác động của việc chậm xử lý thuế không dừng ở khoản tiền chưa được hoàn hoặc khấu trừ. Doanh nghiệp nhập khẩu vẫn phải thanh toán tiền nguyên liệu, vận chuyển và các chi phí liên quan, đồng thời duy trì hoạt động nhà máy, trả lương người lao động và đáp ứng tiến độ giao hàng. Khi vốn bị tồn đọng, khả năng nhập nguyên liệu cho chu kỳ sản xuất tiếp theo cũng chịu sức ép.

"Hiện tại, doanh nghiệp vẫn phải duy trì sản xuất trong khi chờ hướng dẫn, còn các khoản thuế đã nộp và chi phí phát sinh tiếp tục gây áp lực lên dòng tiền. Nhiều doanh nghiệp ngành gỗ chúng tôi đang gặp khó khăn về vốn lưu động và chịu sức ép từ chi phí vay ngân hàng”, ông Liêm nêu thực tế.

“Nút thắt” về thuế càng cần được xử lý rõ ràng khi nguyên liệu nhập khẩu đã được bán cho nhà máy sản xuất. Theo ông Liêm, doanh nghiệp thương mại có thể đã nộp VAT tại khâu nhập khẩu, nhưng khi bán gỗ cho nhà sản xuất lại phát sinh vướng mắc về cách áp dụng thuế ở khâu tiếp theo. Trong khi đó, nguyên liệu có thể đã được đưa vào sản xuất, sản phẩm đã xuất khẩu, khiến việc xử lý giao dịch trước đó trở nên phức tạp hơn nếu thiếu hướng dẫn cụ thể.

CẦN THỐNG NHẤT HƯỚNG DẪN, XỬ LÝ CÁC KHOẢN THUẾ TỒN ĐỌNG

Từ các nhóm vướng mắc được tổng hợp, HAWA kiến nghị cơ quan quản lý sớm làm rõ hồ sơ chứng minh gỗ rừng trồng nhập khẩu, tiêu chí phân loại gỗ sơ chế thông thường và phương án xử lý các khoản VAT đã nộp nhưng đang chờ giải quyết. Trước mắt, cần xác định cơ quan đầu mối tiếp nhận, hồ sơ phải bổ sung và bước giải quyết tiếp theo, thay vì để doanh nghiệp tiếp tục tự tìm hiểu giữa nhiều cơ quan.

Với hồ sơ nguồn gốc gỗ, yêu cầu trước mắt là có danh mục chứng từ được chấp nhận, làm rõ thẩm quyền xác nhận tại nước xuất khẩu và phương thức kiểm tra tài liệu. Hiệp hội cũng kiến nghị xem xét tính khả thi của yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự trong từng trường hợp, nhất là khi quốc gia xuất khẩu không có cơ quan đại diện Việt Nam thuận tiện để thực hiện thủ tục.

Đối với việc phân loại gỗ sơ chế thông thường, cần có hướng dẫn cụ thể cho những trường hợp gỗ đã qua sấy, ngâm tẩm hoặc bảo quản nhưng chưa bào trơn. Theo ông Ngời, cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp cần làm rõ đặc điểm sản phẩm và công đoạn xử lý có ảnh hưởng đến việc phân loại; trên cơ sở đó, cơ quan thuế và hải quan hướng dẫn cách áp dụng chính sách tương ứng.

Một yêu cầu quan trọng khác là xử lý các khoản thuế đã phát sinh trước khi hướng dẫn được hoàn thiện. Doanh nghiệp cần được trả lời cụ thể khoản VAT đã nộp sẽ được hoàn, khấu trừ hay điều chỉnh theo cơ chế nào; cơ quan nào có thẩm quyền xử lý; hồ sơ cần bổ sung gồm những gì và thời gian giải quyết dự kiến ra sao.

Tại hội thảo, nhiều doanh nghiệp ngành gỗ cho biết họ đang mắc kẹt giữa các quy định về nguyên liệu và thuế VAT. Ảnh Hawa.

Tại hội thảo, nhiều doanh nghiệp ngành gỗ cho biết họ đang mắc kẹt giữa các quy định về nguyên liệu và thuế VAT. Ảnh Hawa.

Ông Liêm kiến nghị cơ quan thuế, hải quan và cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp phối hợp rà soát nguồn gốc, phân loại hàng hóa và tình trạng kê khai của từng hồ sơ. Trên cơ sở đó, xác định phương án xử lý khoản thuế đã nộp, chứng từ cần bổ sung, đầu mối tiếp nhận và tiến độ giải quyết. Những nội dung vượt thẩm quyền cần được báo cáo cấp có thẩm quyền để hướng dẫn.

Về phía hiệp hội, ông Mẫn cho biết HAWA sẽ phối hợp với các tổ chức liên quan tổng hợp những vấn đề đã rõ và chưa rõ, hệ thống hóa thành các nhóm kiến nghị gửi cơ quan quản lý. Theo ông, mục tiêu của hội thảo không phải xác định cơ quan nào đúng, cơ quan nào sai, mà là làm rõ chính sách và tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

"Để các kiến nghị có thể đi vào thực tế, phản hồi từ cơ quan thuế, hải quan và cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp là yếu tố cần thiết. Cơ quan quản lý cần làm rõ căn cứ áp dụng đối với từng nhóm hàng hóa, hướng dẫn thống nhất thành phần hồ sơ và xác định trách nhiệm xử lý những khoản thuế đã phát sinh. Đồng thời, cần phân biệt các trường hợp mới nhập khẩu với các giao dịch đã hoàn tất hoặc đã nộp thuế, nhằm tránh để doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khi xử lý hồ sơ trong giai đoạn chuyển tiếp”, Chủ tịch HAWA kiến nghị.

Nguyệt Hà

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/doanh-nghiep-go-lao-dao-vi-vuong-mac-thu-tuc-nhap-khau-va-thue-vat.htm