Doanh nghiệp xuất khẩu cá tra xoay xở bằng chiến lược đa tầng trước biến động Trung Đông
Ba tháng đầu năm 2026, cá tra tăng trưởng mạnh nhưng doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đối mặt áp lực logistics, nhiên liệu và bất ổn Trung Đông.
Xuất khẩu cá tra tăng trưởng nhưng áp lực chi phí gia tăng
Những tháng đầu năm 2026, ngành cá tra Việt Nam ghi nhận bức tranh vừa sáng vừa tối khi kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh, nhưng đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức từ giá nhiên liệu và xung đột địa chính trị tại Trung Đông.

Chế biến cá tra xuất khẩu - Ảnh: T.L
Theo các doanh nghiệp thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), cá tra tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” trong nhóm hàng thủy sản xuất khẩu. Chỉ riêng tháng 1.2026, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt khoảng 212 triệu USD, tăng 59% so với cùng kỳ năm 2025 – mức tăng được đánh giá rất tích cực sau giai đoạn thị trường trầm lắng.
Đà tăng trưởng này tạo nền tảng để ngành cá tra hướng tới mục tiêu 2,3 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu trong năm 2026, nếu thị trường thế giới tiếp tục duy trì nhu cầu ổn định.
Tại các địa phương nuôi cá tra trọng điểm như Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp, nhiều nhà máy chế biến đang hoạt động với công suất cao hơn so với cùng kỳ năm trước nhờ đơn hàng xuất khẩu tăng.
Ông Nguyễn Văn Kịch, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Cafatex cho biết, một trong những điểm đáng chú ý của thị trường cá tra đầu năm nay là giá cá nguyên liệu tăng mạnh. Tại vùng nuôi trọng điểm của ĐBSCL, giá cá tra thương phẩm đã đạt 32.000 – 34.000 đồng/kg, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Nguyên nhân chủ yếu là nguồn cung cá nguyên liệu giảm trong khi nhu cầu chế biến xuất khẩu phục hồi nhanh. Sau giai đoạn khó khăn của năm trước, nhiều hộ nuôi đã giảm diện tích thả nuôi, dẫn đến nguồn cá thương phẩm trong quý I không dồi dào.
Khi đơn hàng xuất khẩu tăng trở lại, các doanh nghiệp chế biến buộc phải nâng giá thu mua để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất.
Với mức giá khoảng 32.000-34.000 đồng/kg, nhiều hộ nuôi cá tra hiện có thể đạt lợi nhuận khá tốt. Theo tính toán của người nuôi, chi phí sản xuất hiện dao động 26.000 – 28.000 đồng/kg, do đó lợi nhuận có thể đạt 6.000 – 8.000 đồng/kg cá.
Khi giá cá tra nguyên liệu tăng lên mức cao, nhóm hưởng lợi rõ rệt nhất chính là người nuôi cá và các doanh nghiệp sở hữu vùng nuôi chủ động.
Đối với người nuôi độc lập, mức giá hiện tại giúp cải thiện đáng kể thu nhập sau một thời gian dài lợi nhuận thấp, đồng thời khuyến khích nhiều hộ nuôi tái đầu tư và mở rộng diện tích trong thời gian tới.
Các doanh nghiệp lớn có vùng nuôi khép kín cũng hưởng lợi vì vừa kiểm soát được nguồn nguyên liệu vừa giảm chi phí thu mua.
Ngược lại, các doanh nghiệp chế biến không có vùng nuôi lại chịu áp lực lớn khi giá nguyên liệu tăng nhanh trong khi giá bán xuất khẩu chưa tăng tương ứng.

Nuôi cá tra nguyên liệu ở ĐBSCL -Ảnh: T.L
Thị trường xuất khẩu khởi sắc nhưng chịu tác động từ Trung Đông
Một giám đốc xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc cho biết, trong các thị trường xuất khẩu cá tra, Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng rất cao. Có thời điểm, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng tới 135%, chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tăng mạnh trong các dịp lễ hội đầu năm.
Bên cạnh Trung Quốc, các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU) cũng có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn khá thận trọng do các rào cản về thuế và tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe.
Ngoài ra, các thị trường mới như Brazil và một số nước trong khối CPTPP đang nổi lên như những điểm sáng với tốc độ tăng trưởng ổn định.
Sự đa dạng hóa thị trường được xem là yếu tố quan trọng giúp ngành cá tra giảm phụ thuộc vào một vài thị trường lớn.
Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng của ngành đang chịu tác động từ những bất ổn địa chính trị tại khu vực Trung Đông.
Ông Trương Vĩnh Thành, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Sao Mai Group cho rằng căng thẳng quân sự trong khu vực, đặc biệt từ cuối tháng 2.2026, đã khiến nhiều tuyến vận tải biển quan trọng bị gián đoạn.
Thay vì đi qua kênh đào Suez, nhiều tàu phải vòng qua mũi Hảo Vọng, khiến thời gian vận chuyển kéo dài đáng kể.
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, chi phí vận chuyển mỗi container lạnh có thể tăng thêm 2.000 – 4.000 USD.
Bên cạnh đó, thời gian giao hàng kéo dài từ 7 đến 20 ngày, gây áp lực lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng đông lạnh và làm chậm vòng quay vốn.
Ngoài chi phí vận tải, doanh nghiệp còn phải gánh thêm nhiều loại phụ phí như phụ phí nhiên liệu và phí rủi ro chiến tranh.
Tuy nhiên, một số nhà nhập khẩu cá tra Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ cũng sẵn sàng chia sẻ rủi ro về chi phí logistics với các doanh nghiệp chế biến cá tra Việt Nam.
Trung Đông là thị trường tiềm năng đối với cá tra Việt Nam với kim ngạch gần 176 triệu USD trong năm 2025. Tuy nhiên, do rủi ro vận tải tăng cao, một số doanh nghiệp Việt Nam đã tạm thời hạn chế xuất khẩu sang khu vực này để theo dõi tình hình.
Dù vậy, nhu cầu thực phẩm tại khu vực này vẫn khá cao nên các đơn hàng chưa bị hủy bỏ mà chủ yếu bị chậm ở khâu vận chuyển.

Nhà máy chế biến thủy sản IDI của Tập đoàn Sao Mai - Ảnh: V.K.K
Doanh nghiệp cá tra xoay xở bằng chiến lược đa tầng
Theo ông Trương Vĩnh Thành - Tập đoàn Sao Mai Group, một hệ lụy khác của xung đột Trung Đông là sự biến động của giá dầu thế giới. Khi giá nhiên liệu tăng, chi phí vận chuyển nội địa và chi phí sản xuất của ngành thủy sản cũng tăng theo.
Đối với ngành cá tra, chi phí thức ăn, điện năng, vận chuyển và logistics đều chịu ảnh hưởng, khiến tổng giá thành sản xuất tăng lên.
Trong bối cảnh đó, lợi thế cạnh tranh về giá của cá tra Việt Nam tại các thị trường xa như Hoa Kỳ và EU có thể bị ảnh hưởng so với các loài cá thịt trắng khác.
Theo ông Nguyễn Văn Kịch - Công ty CP Cafatex, trước áp lực chi phí và rủi ro thị trường, các doanh nghiệp cá tra tại Cần Thơ và ĐBSCL đang triển khai nhiều giải pháp nhằm duy trì sức cạnh tranh.
Một trong những giải pháp quan trọng là tối ưu hóa chuỗi giá trị thông qua liên kết chặt chẽ giữa người nuôi, cơ sở sản xuất giống và nhà máy chế biến. Việc kiểm soát tốt con giống giúp giảm tỷ lệ hao hụt và hạ giá thành sản xuất.
Nhiều doanh nghiệp cũng áp dụng kỹ thuật nuôi tiết kiệm, như phương pháp cho ăn gián đoạn, giúp giảm chi phí thức ăn – vốn chiếm 70–80% giá thành nuôi cá.
Bên cạnh đó, các nhà máy chế biến đang tăng cường cơ giới hóa và tự động hóa, đầu tư dây chuyền fillet tự động và hệ thống quản lý sản xuất thông minh để giảm chi phí nhân công và năng lượng.
Một xu hướng đáng chú ý của ngành cá tra hiện nay là chuyển dịch từ xuất khẩu sản phẩm thô sang các mặt hàng chế biến sâu.
Thay vì chỉ xuất khẩu fillet đông lạnh truyền thống, nhiều doanh nghiệp đang phát triển các sản phẩm như cá tra tẩm bột, cá viên hoặc các sản phẩm chế biến sẵn.
Những mặt hàng này có giá trị gia tăng cao hơn và phù hợp với xu hướng tiêu dùng tiện lợi tại Hoa Kỳ và châu Âu.
Ngoài ra, việc tận dụng phế phụ phẩm như da cá, mỡ cá để sản xuất collagen, gelatin hoặc bột cá cũng giúp doanh nghiệp tăng thêm nguồn thu và cải thiện biên lợi nhuận.
Nhìn chung, ba tháng đầu năm 2026 cho thấy ngành cá tra Việt Nam đang có sự phục hồi rõ nét về xuất khẩu và giá nguyên liệu. Tuy nhiên, những biến động từ giá nhiên liệu, chi phí logistics và căng thẳng địa chính trị vẫn là các yếu tố rủi ro cần được theo dõi sát.
Nếu tận dụng tốt lợi thế nguồn cung, nâng cao giá trị sản phẩm và tiếp tục mở rộng thị trường, cá tra Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong xuất khẩu thủy sản và đóng góp lớn cho kinh tế vùng ĐBSCL.












