Doanh nghiệp xuất khẩu nội địa tăng sự bứt phá vào nửa cuối 2026?

Hướng tới mốc kim ngạch thương mại kỷ lục trong năm 2026, Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức và doanh nghiệp xuất khẩu nổi địa liệu có bứt phá mạnh mẽ trong thời gian tới.

Theo số liệu mới đây của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21%, còn nhập khẩu đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4%.

Xét theo khu vực kinh tế, khu vực trong nước xuất khẩu đạt 53,51 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 213,01 tỷ USD, tăng 26%, chiếm tới 79,9%, tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong hoạt động xuất khẩu của cả nước.

Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), cho biết trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, có 5 mặt hàng đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD, đóng góp 62,6% tổng kim ngạch.

Theo bà Hương, kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu của nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam. Đây không chỉ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu mà còn góp phần kích thích sản xuất, mở rộng đầu tư và tạo việc làm cho doanh nghiệp.

Về cơ cấu hàng hóa, nhóm công nghiệp chế biến tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo với kim ngạch 239,8 tỷ USD, tương đương 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp đến là nhóm nông, lâm sản đạt 19,23 tỷ USD (chiếm 7,2%), thủy sản đạt 5,76 tỷ USD (2,2%), trong khi nhóm nhiên liệu và khoáng sản đạt 1,73 tỷ USD, chiếm 0,6%.

Xuất khẩu 6 tháng đầu năm có nhiều gam màu khởi sắc

Xuất khẩu 6 tháng đầu năm có nhiều gam màu khởi sắc

Về thị trường, Hoa Kỳ tiếp tục là điểm đến xuất khẩu lớn nhất của hàng hóa Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỷ USD. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất, với kim ngạch đạt 115,2 tỷ USD, cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc phục vụ sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu phản ánh nhu cầu nguyên, nhiên vật liệu và máy móc phục vụ sản xuất tiếp tục gia tăng, cho thấy hoạt động sản xuất - kinh doanh đang phục hồi mạnh, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng để kỳ vọng lĩnh vực xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới mốc kim ngạch thương mại kỷ lục trong năm 2026, Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức.

Phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Tuấn Việt – TGĐ Công ty VIETGO, chuyên gia hàng đầu về xuất khẩu để có cái nhìn khách quan về cơ hội và thách thức mà xuất khẩu Việt Nam sẽ đối mặt trong nửa cuối của năm 2026.

Hiện nhóm công nghiệp chế biến vẫn chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Theo ông, đâu sẽ là nhữngngànhhàng có dư địa tăng trưởng mạnh nhất trong nửa cuối năm và giai đoạn tới?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Tương tự như xu hướng của nửa đầu năm, các mặt hàng chế biến sâu dự kiến sẽ tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo lên đến 90% trong kim ngạch xuất khẩu vào nửa cuối năm 2026. Diễn biến này sẽ càng thể hiện rõ nét hơn khi thế giới bước vào mùa mua sắm lớn nhất năm như dịp Noel và Tết Dương lịch. Để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ cao điểm vào nửa cuối tháng 12, thị trường bán lẻ toàn cầu phải rục rịch chuẩn bị và tích kho trước đó cả tháng.

Xét về dòng chảy logistics, các hoạt động sản xuất, gom hàng và xuất nhập khẩu thực tế đã phải diễn ra từ trước đó hai tháng. Chẳng hạn, một đơn hàng vận chuyển bằng đường biển từ Việt Nam sang Mỹ hoặc châu Âu riêng thời gian lênh đênh trên biển đã mất khoảng một tháng. Do đó, để hàng hóa kịp đưa vào kho của các đối tác châu Âu vào giữa tháng 11 và bày bán vào cuối tháng 12, chúng phải được bốc dỡ ra cảng biển Việt Nam ngay từ nửa đầu tháng 10. Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ hoạt động sản xuất tại các nhà máy trong nước phải được đẩy mạnh cao độ từ tháng 8 và tháng 9.

Chính từ cấu trúc dòng thời gian nghiêm ngặt này, nửa cuối năm 2026 hứa hẹn sẽ là giai đoạn tăng trưởng bùng nổ của các mặt hàng chủ lực như dệt may, đồ gỗ, hàng tiêu dùng và nông sản… những nhóm hàng vốn có sức tiêu thụ đặc biệt mạnh mẽ trong mùa lễ hội cuối năm.

Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng tại nhiều thị trường lớn đang phục hồi nhưng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe, doanh nghiệp xuất khẩu cần chuẩn bị những gì để duy trì tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Vào giai đoạn cuối năm, sự phục hồi của một số thị trường sau những biến động kinh tế hoặc sau chiến tranh là một tín hiệu rất tích cực. Điển hình như thời điểm giữa năm, sự kiện thể thao lớn nhất thế giới là World Cup đã thúc đẩy lượng tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là đồ ăn, thức uống tại Mỹ tăng trưởng rất mạnh. Các mặt hàng như cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cùng các sản phẩm dệt may và hàng tiêu dùng đạt sức mua lớn nhằm phục vụ cho mùa World Cup tại quốc gia này. Nhu cầu tăng cao dẫn đến việc thiếu hụt nguồn cung cục bộ, khiến nhu cầu nhập khẩu để bù đắp lượng hàng hóa thiếu hụt ngày càng gia tăng. Thực tế trong những ngày gần đây, thị trường cà phê đã có những biến động rất mạnh do Mỹ tiêu thụ một lượng lớn mặt hàng này.

Bên cạnh đó, thị trường Trung Đông bước vào giai đoạn phục hồi sau chiến tranh cũng kích cầu lượng hàng hóa mua vào một cách mạnh mẽ. Để phục vụ cho quá trình tái thiết và ổn định đời sống, các mặt hàng như hoa quả tươi, thực phẩm, đồ gỗ, may mặc, hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng đều ghi nhận xu hướng quay trở lại và tăng trưởng tốt. Đây chính là những nhóm mặt hàng hứa hẹn sẽ rất "hot" từ nay cho đến cuối năm.

Liên quan đến vấn đề các thị trường chủ lực đặt ra nhiều tiêu chuẩn xanh khắt khe, tôi cho rằng từ giờ đến cuối năm, các thị trường này nhìn chung vẫn chưa áp dụng những bộ tiêu chuẩn quá cao. Tuy nhiên, đây là một xu hướng tất yếu mà các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chủ động chuẩn bị tinh thần. Nhiều thị trường lớn sẽ điều chỉnh và thắt chặt các điều kiện khắt khe hơn trong giai đoạn sắp tới, cụ thể là vào các năm 2027 và 2028.

Ông Nguyễn Tuấn Việt – TGĐ Công ty VIETGO

Ông Nguyễn Tuấn Việt – TGĐ Công ty VIETGO

Theo ông, những thị trường nào sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới cho xuất khẩu Việt Nam ngoài các thị trường truyền thống như Mỹ, EU và Trung Quốc? Doanh nghiệp cần lưu ý điều gì khi mở rộng sang các thị trường này?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Nhìn nhận về những thị trường sẽ đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu cho Việt Nam trong thời gian tới, tôi đánh giá cao nhất là thị trường Nam Mỹ. Khi hiệp định TPP có hiệu lực, các doanh nghiệp trong khối ngày càng sử dụng các ưu đãi một cách nhuần nhuyễn, tạo sự gắn kết chặt chẽ hơn và khối Nam Mỹ sẽ tham gia sâu vào chuỗi này. Thực tế trong những tháng gần đây, thông qua kênh VietGo, chúng tôi ghi nhận số lượng đơn đặt hàng từ Nam Mỹ tăng lên rất nhiều, đặc biệt là đối với các mặt hàng xi măng, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng.

Thị trường thứ hai là Châu Phi, đây là khu vực có sức tiêu thụ nông sản đặc biệt mạnh mẽ. Trong suốt một đến hai thập kỷ qua, Châu Phi luôn là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam. Với tổng sản lượng xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn gạo mỗi năm của nước ta, khu vực này đã chiếm đến 50% - 60%. Đây là một thị trường rất tốt với nhu cầu tập trung chủ yếu vào nhóm hàng thực phẩm.

Chúng ta cũng cần tiếp tục duy trì các thị trường truyền thống như Nga và Đông Âu. Đặc biệt đối với Nga, trong bối cảnh bị cấm vận tại nhiều thị trường và khối quốc gia, họ không có nhiều sự lựa chọn cung ứng. Do đó, họ bắt buộc phải tìm kiếm nguồn hàng từ Việt Nam và Trung Quốc. Điều này mở ra lợi thế lớn cho Việt Nam trong việc cung cấp các mặt hàng mà Trung Quốc không có thế mạnh hoặc không còn mặn mà, tiêu biểu như toàn bộ các loại hoa quả nhiệt đới, một số mặt hàng tiêu dùng và hàng dệt may.

Đối với thị trường Trung Đông, Việt Nam đang ngày càng khẳng định được ưu thế và đây rõ ràng là một thị trường đầy tiềm năng. Bên cạnh đó, các thị trường quen thuộc như Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và khối ASEAN vẫn là những khu vực mà Việt Nam giữ vững vị thế xuất khẩu rất mạnh.

Cuối cùng, một thị trường đặc biệt quan trọng mới được nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện cách đây vài tháng là Ấn Độ. Dù là một quốc gia đơn lẻ nhưng Ấn Độ sở hữu quy mô dân số hơn 1,4 tỷ người, gấp đôi toàn bộ Châu Âu cộng lại. Đây là thị trường cực kỳ lớn mà doanh nghiệp Việt Nam cần tập trung khai thác. Tuy nhiên, chúng ta phải làm quen với phương thức giao dịch khá đặc thù của thương nhân Ấn Độ: họ có thể mặc cả giá cả vô cùng khắt khe, bù lại số lượng đơn hàng lại cực kỳ khổng lồ. Đồng thời, thị trường này không yêu cầu quá nhiều tiêu chuẩn phức tạp, tiêu chí cốt lõi là sản phẩm có thể sử dụng và ăn uống được.

Xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và yêu cầu truy xuất nguồn gốc đang tác động ngày càng mạnh đến hoạt động thương mại quốc tế. Theo ông, đây là thách thức hay cơ hội để các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam nâng cấp vị thế trên thị trường toàn cầu?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Nếu hiểu thuật ngữ "truy xuất nguồn gốc" theo đúng nghĩa đen, thì hiện tại mới chỉ có thị trường Trung Quốc đưa ra yêu cầu bắt buộc. Trong khi đó, các quốc gia khác chủ yếu thiết lập các hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật để chúng ta tìm cách vượt qua. Thông thường, chỉ những thị trường cao cấp, nơi người mua có rất nhiều sự lựa chọn cung ứng, họ mới đặt ra các rào cản tiêu chuẩn khắt khe, ví dụ như Châu Âu, Mỹ hay Nhật Bản. Ngược lại, tại các thị trường khác, việc xuất khẩu vẫn diễn ra thuận lợi mà gần như không gặp phải các đòi hỏi quá cao về mặt tiêu chuẩn.

Mặc dù vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn cần phải chuẩn bị sẵn sàng về cả tâm lý lẫn năng lực kỹ thuật để liên tục nâng cấp sản phẩm, nhằm tiếp cận các thị trường khó tính. Đây là xu hướng tất yếu phải vượt qua, và nó hoàn toàn nằm trong tầm tay chứ không phải là một bài toán quá khó hay bất khả thi.

Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang làm rất tốt vai trò điều tiết, đặc biệt là việc xử lý các chính sách thuế phù hợp với cấu trúc của từng thành phần kinh tế. Nhờ vậy, câu chuyện truy xuất nguồn gốc đã không còn là một trở ngại lớn. Toàn bộ chuỗi cung ứng từ người nông dân, hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã cho đến doanh nghiệp đều đã đạt được độ minh bạch cao. Khi dòng tiền và nghĩa vụ thuế đều được thể hiện một cách rõ ràng, minh bạch, các rào cản xuất khẩu tự khắc sẽ được tháo gỡ.

Doanh nghiệp xuất khẩu nội địa liệu có cơ hội bứt phá hơn so với đà tăng trưởng của các doanh nghiệp FDI hay không? Và đâu sẽ là ngành hàng chủ lực?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Những nhóm ngành kể trên chính là các lĩnh vực chủ lực để doanh nghiệp trong nước tập trung khai thác - nơi mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chưa hoặc không thể tiếp cận được.

Khi đặt câu hỏi liệu doanh nghiệp nội địa có thể bứt phá và vượt qua doanh nghiệp FDI hay không, đây thực sự là một vấn đề rất khó để phân tích và khẳng định. Hiện nay, Việt Nam đang là điểm đến cực kỳ hấp dẫn của dòng vốn ngoại. Chúng ta không chỉ đón nhận nguồn lực từ một quốc gia duy nhất, mà là sự hội tụ của rất nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Do đó, nếu nói doanh nghiệp Việt Nam có thể lập tức cập nhật để "đua" sòng phẳng với khối FDI thì vẫn còn khá khập khiễng. Các quốc gia dịch chuyển vào Việt Nam đều mang theo những tập đoàn quy mô lớn cùng những công nghệ, giải pháp tinh hoa nhất của họ. Vì vậy, thay vì đặt mục tiêu cạnh tranh trực diện, chúng ta nên tiếp cận theo hướng học hỏi, đúc rút kinh nghiệm từ họ. Việc coi khối FDI là động lực và đòn bẩy để phát triển nội lực sẽ là hướng đi thực tế và hiệu quả hơn rất nhiều.

 Tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào khối FDI

Tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào khối FDI

Về bản chất, khối FDI và doanh nghiệp nội địa đang tập trung vào những nhóm sản phẩm mang tính chất bù trừ cho nhau. Trong khi doanh nghiệp trong nước nắm thế mạnh ở các ngành như dệt may, da giày, thủy sản, đồ gỗ, hàng tiêu dùng, nông sản (hoa quả) và vật liệu xây dựng; thì các doanh nghiệp FDI lại tập trung phần lớn vào mảng máy móc, thiết bị công nghệ cao. Đây là một mối quan hệ tương hỗ, cộng sinh để cùng nhau phát triển. Doanh nghiệp nội địa có thể học hỏi về mặt công nghệ lẫn các bài học quản trị từ khối ngoại. Đồng thời, chúng ta cũng cần chủ động tiếp thu những giá trị tinh hoa từ nhiều quốc gia khác nhau, biến đó thành con đường, động lực và tri thức để xây dựng nền tảng vững chắc cho riêng mình.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2026 liệu có trở ngại hay không? Doanh nghiệp XNK cần ứng phó ra sao?

Ông Nguyễn Tuấn Việt: Tôi cho rằng mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hai con số do Chính phủ đặt ra là hoàn toàn khả thi. Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm, chúng ta đã đạt được mức tăng trưởng đầy ấn tượng là 21%. Tôi tin tưởng rằng trong nửa cuối năm, tốc độ này vẫn sẽ được duy trì, thậm chí có thể đạt mức cao hơn.

Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch của chúng ta đã chạm mốc gần 550 tỷ USD. Xét theo logic tiến trình này, cuối năm nay chúng ta hoàn toàn có thể phá mốc 1.000 tỷ USD ngay từ khoảng tháng 11. Dự kiến, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm sẽ đạt hơn 1.100 tỷ USD. Kết quả này có thể đưa Việt Nam vào top 13 hoặc 14 các quốc gia có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới. Đây rõ ràng là một tín hiệu cực kỳ lạc quan.

Có thể nói, đây là thời điểm nền kinh tế của chúng ta bắt đầu gặt hái thành quả từ những nỗ lực bền bỉ của Chính phủ. Đó là thành quả của việc kiến tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, của những bước đi ngoại giao kinh tế hiệu quả, và việc ký kết thành công nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA). Các chính sách này đã mang lại lợi thế cạnh tranh to lớn cho cả doanh nghiệp Việt Nam lẫn khối doanh nghiệp FDI.

Bên cạnh đó, cũng không thể không nhắc đến sự nỗ lực vượt bậc của hệ thống doanh nghiệp trong nước thời gian qua nhằm nâng cao tư duy thương mại. Sự ra đời của hàng loạt công ty thương mại mới đã hình thành nên một đội ngũ bán hàng chuyên nghiệp cho toàn bộ nền kinh tế. Với những nền tảng và tín hiệu tích cực này, tôi cho rằng dư địa tăng trưởng của chúng ta vẫn còn rất lớn và mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong nhiều năm tới là hoàn toàn khả thi.

Xin cảm ơn ông!

Bà Nguyễn Thu Oanh - Đại diện Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, cán cân thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 chuyển sang trạng thái nhập siêu 16,7 tỷ USD. Tuy nhiên, diễn biến này không phản ánh sự suy yếu của hoạt động xuất khẩu mà chủ yếu xuất phát từ tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn, trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất và xuất khẩu gia tăng mạnh.

Số liệu của Cục Thống kê cho thấy, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm. Trong đó, nhập khẩu tập trung chủ yếu vào máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc, thiết bị, cùng các loại nguyên, nhiên vật liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Cơ cấu nhập khẩu này cho thấy doanh nghiệp đang chủ động gia tăng nhập khẩu đầu vào để mở rộng sản xuất, chuẩn bị nguồn nguyên liệu và thiết bị đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu trong thời gian tới, đồng thời phục vụ nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. Vì vậy, ở một góc độ nhất định, trạng thái nhập siêu hiện nay có thể được xem là "nhập siêu phục vụ sản xuất", phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào triển vọng phục hồi của hoạt động sản xuất và xuất khẩu trong những tháng cuối năm.

Ở chiều ngược lại, cơ cấu xuất khẩu tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu của khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo khi nhóm hàng này chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây là tín hiệu cho thấy nền sản xuất vẫn duy trì được động lực tăng trưởng, đồng thời cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa hoạt động nhập khẩu đầu vào và xuất khẩu thành phẩm. Điều này cũng phản ánh mô hình tăng trưởng của Việt Nam vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất chế biến, chế tạo phục vụ xuất khẩu, trong đó nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và máy móc là yếu tố không thể thiếu để duy trì năng lực cạnh tranh và đáp ứng các đơn hàng quốc tế.

Đăng Khôi

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/doanh-nghiep-xuat-khau-noi-dia-tang-su-but-pha-vao-nua-cuoi-2026-116050.html