Đổi mới công nghệ: Hướng đi tất yếu của ngành công nghiệp than

Ngành công nghiệp than đặt mục tiêu đến năm 2030, đổi mới và áp dụng công nghệ thăm dò, khai thác than tiên tiến, đặc biệt đối với những khu vực nằm ở độ sâu lớn.

Phát triển “mỏ xanh, mỏ hiện đại”

Tại Quyết định số 55/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp than Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nêu rõ quan điểm: Phát huy tối đa nội lực kết hợp mở rộng hợp tác quốc tế để nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới hiện đại, đặc biệt là các thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong quản lý thăm dò, khai thác, sàng tuyển - chế biến, vận chuyển và sử dụng than.

Ngành than tích cực đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất. Ảnh: Q.N

Ngành than tích cực đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất. Ảnh: Q.N

Trong đó, về thăm dò và khai thác than, Chiến lược đặt ra mục tiêu và định hướng: Đổi mới và áp dụng công nghệ thăm dò, khai thác than tiên tiến, đặc biệt đối với những khu vực nằm ở độ sâu lớn, điều kiện địa chất phức tạp. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá trữ lượng và tài nguyên than.

Tích cực tìm kiếm đối tác trong và ngoài nước nghiên cứu đầu tư lựa chọn công nghệ, phương pháp thăm dò thích hợp để thăm dò Bể than sông Hồng trong giai đoạn đến năm 2030. Phấn đấu hoàn thành thăm dò một phần diện tích và điều tra, đánh giá xong tài nguyên Bể than sông Hồng trong giai đoạn 2031-2045.

Tập trung phát triển, duy trì các mỏ hầm lò sản lượng lớn theo tiêu chí “Mỏ xanh, mỏ hiện đại, mỏ sản lượng cao, mỏ an toàn”. Phát triển sản lượng khai thác theo hướng bền vững; khai thác an toàn, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên than. Tăng cường cơ giới hóa, hiện đại hóa trong khai thác than; nâng cao hệ số thu hồi than sạch trong khai thác hầm lò. Đầu tư một số đề tài/đề án/dự án nghiên cứu khai thác thử nghiệm tại Bể than sông Hồng để lựa chọn công nghệ khai thác hợp lý.

Về sàng tuyển và chế biến than: Phát triển công tác sàng tuyển và chế biến than theo hướng nâng cao tỷ lệ sàng tuyển và chế biến than tập trung trong toàn ngành; đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng than phù hợp theo thị trường theo từng giai đoạn.

Duy trì, cải tạo các nhà máy sàng tuyển, trung tâm chế biến than hiện có kết hợp việc duy trì hợp lý các cụm sàng mỏ; đầu tư xây dựng mới nhà máy sàng tuyển tập trung theo từng khu vực để đảm bảo yêu cầu chế biến than.

Bên cạnh đó, chế biến than sản xuất trong nước kết hợp với pha trộn than nhập khẩu theo hướng tối đa chủng loại than cho sản xuất điện; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm đa dạng hóa sản phẩm theo thị trường, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính.

Thực hiện công tác sàng tuyển và chế biến than tại các mỏ địa phương phù hợp với nhu cầu tiêu thụ, công suất các dự án mỏ; xây dựng các cơ sở chế biến than bùn tập trung với công nghệ tiên tiến theo hướng ưu tiên chế biến ra các sản phẩm có chất lượng sử dụng cho ngành nông, lâm nghiệp và đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Về công tác an toàn và bảo vệ môi trường: Thực hiện tiêu chí mỏ “An toàn - Hiện đại - Thân thiện với môi trường”; tăng cường áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ để kiểm soát hữu hiệu các yếu tố rủi ro trong sản xuất than.

Về công tác phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất - kinh doanh than: Tổ chức hệ thống vận tải phù hợp năng lực sản xuất than từng khu vực với công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, hiệu quả kinh tế. Cải tạo, mở rộng, xây dựng mới các cảng nội địa tại các vùng sản xuất than phục vụ xuất, nhập và pha trộn than với công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường.

Chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng xuất, nhập khẩu than; triển khai nhanh việc xây dựng hệ thống cảng, kho dự trữ và trung chuyển than quy mô lớn theo khu vực với loại hình cảng hợp lý, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ logistics đồng bộ, công nghệ tiên tiến, hiện đại và thân thiện với môi trường để phục vụ xuất khẩu, nhập khẩu, pha trộn than đáp ứng nhu cầu sử dụng than trong nước, đặc biệt là cho sản xuất điện.

Đổi mới công nghệ trong mọi khâu sản xuất

Tại Quyết định số 893/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng đặt ra yêu cầu: Đổi mới và áp dụng công nghệ thăm dò tiên tiến, đặc biệt đối với những khu vực nằm ở độ sâu lớn, điều kiện địa chất phức tạp; tiếp tục tìm kiếm đối tác nghiên cứu đầu tư lựa chọn công nghệ, phương pháp thăm dò thích hợp để thăm dò Bể than sông Hồng.

Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác chế biến than (dùng cho luyện kim, khí hóa than để sản xuất các loại sản phẩm khí phù hợp phục vụ các ngành năng lượng và công nghiệp...) nhằm đa dạng hóa sản phẩm không dùng cho mục đích năng lượng chế biến từ than đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính.

Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác chế biến than thành các dạng năng lượng sạch, sản phẩm khác (dùng cho luyện kim, khí hóa than để sản xuất các loại sản phẩm khí phù hợp phục vụ các ngành năng lượng và công nghiệp,...) nhằm đa dạng hóa sản phẩm chế biến từ than.

Quy hoạch còn nêu cụ thể định hướng giai đoạn 2031 - 2050: Tiếp tục duy trì các nhà máy, trung tâm sàng tuyển, chế biến than tập trung đã đầu tư xây dựng; đẩy mạnh cải tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao tỷ lệ thu hồi than chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu khi nhu cầu sử dụng than sản xuất trong nước giảm dần. Phấn đấu tỷ lệ sản lượng than khai thác đưa vào sàng tuyển - chế biến tập trung đạt trên 65% tổng sản lượng than sản xuất.

Theo Bộ Công Thương, đối với ngành công nghiệp than, trong năm 2025, Bộ Công Thương đã tập trung đôn đốc việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành than, nội dung quy hoạch phân ngành than trong Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia và các kế hoạch liên quan; chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh than và đảm bảo cung cấp đủ than cho sản xuất điện.

Theo đó, ngay từ các tháng đầu năm, Bộ Công Thương đã thường xuyên theo dõi và bám sát tình hình cung cấp than cho sản xuất điện, kịp thời ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành để đảm bảo ổn định thị trường than, cung cấp đủ than cho sản xuất điện và các nhu cầu sản xuất công nghiệp khác theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Năm 2025, than thương phẩm đạt trên 55,91 triệu tấn, trong đó than thương phẩm sản xuất trong nước đạt khoảng 44,08 triệu tấn; than nhập khẩu đạt trên 11,83 triệu tấn. Qua đó, đảm bảo cung cấp đủ than cho sản xuất điện theo yêu cầu của hệ thống điện quốc gia.

Bên cạnh việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo thẩm quyền đối với hoạt động quản lý dự án đầu tư xây dựng, quản lý chất lượng các công trình xây dựng thuộc lĩnh vực công nghiệp than và hoạt động quản lý nhà nước về giá đối với mặt hàng than, Bộ Công Thương đã chỉ đạo, đôn đốc theo thẩm quyền đối với công tác đổi mới công nghệ trong các khâu sản xuất than; công tác rà soát, thực hiện định mức kinh tế - kỹ thuật; các giải pháp liên quan đến khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên than của đất nước.

Bộ cũng thường xuyên theo dõi, cập nhật tình hình triển khai đối với công tác đổi mới công nghệ trong các khâu sản xuất, hướng dẫn tháo gỡ, khó khăn vướng mắc trong công tác đổi mới công nghệ trong các khâu sản xuất than cho doanh nghiệp; thực hiện công tác kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, hướng dẫn tháo gỡ, khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp.

Nhờ việc đầu tư đổi mới công nghệ trong ngành khai thác than và khoáng sản, đã góp phần tăng sản lượng khai thác bình quân 14%/năm. Tỷ lệ cơ giới hóa trong khai thác hầm lò đã tăng vượt bậc từ 10% lên 80% trong những năm qua.

Chiến lược phát triển ngành công nghiệp than Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra nhiệm vụ, đa dạng hóa nguồn và hình thức huy động vốn để đầu tư phát triển ngành than, nhất là đối với hạ tầng, hệ thống logistics phục vụ nhập khẩu than và các dự án khai thác than tại các khu vực mà ngành than hiện chưa làm chủ được công nghệ.

Quỳnh Nga

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/doi-moi-cong-nghe-huong-di-tat-yeu-cua-nganh-cong-nghiep-than-443503.html