Đổi mới lý luận, phát triển Việt Nam kỷ nguyên mới - Bài 3: Hệ giá trị và phương lược phát triển quốc gia
Trong hành trình bước vào kỷ nguyên mới, không thể đứng ngoài lề dòng chảy địa chính trị, khoa học công nghệ như bão giông của thế giới. Đứng vững trên nền tảng tư tưởng, với hạt nhân là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, triết lý lấy nhân dân làm gốc, phát triển vị thế dân là chủ và dân làm chủ, tiếp tục phát triển hệ thống lý luận dẫn dắt đất nước trong điều kiện mới tương dung với thời đại.
Quốc gia phát triển, xét cho cùng là kinh tế. Đó là phương thức định vị địa chính trị chiến lược quốc gia hiện nay.
Nền kinh tế Việt Nam sau nhiều năm tăng trưởng dựa vào chiều rộng (lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên, thâm dụng vốn...) đã chạm tới ngưỡng giới hạn. Nếu không bứt phá, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình chỉ còn là vấn đề thời gian. Từ xác quyết kinh tế tư nhân không chỉ là "thành phần kinh tế quan trọng" mà còn là động lực quan trọng nhất, xung kích nhất trong tổng thể các khu vực kinh tế hợp thành nền kinh tế quốc gia thống nhất, tiếp tục nâng tầm dẫn dắt của kinh tế nhà nước, để tạo nên sức bật mới của nền kinh tế vĩ mô. Giải phóng tối đa lực lượng sản xuất phải là cuộc giải phóng tổng thể từ tư duy con người, tới tạo cơ chế pháp lý an toàn để các doanh nhân, trí thức, người lao động tự do sáng tạo, làm giàu chính đáng cho bản thân và cho đất nước, mà không phải sợ hãi các rủi ro pháp lý hoặc sự mù mờ, chồng chéo của hệ thống pháp luật.

Ảnh minh họa: baochinhphu.vn
Sứ mệnh lớn nhất của Đảng trong kỷ nguyên mới là thực hiện một cuộc cách mạng giải phóng lực lượng sản xuất, phá vỡ mọi xiềng xích thể chế đang kìm hãm dòng chảy của các nguồn lực quốc gia. Đảng phải tiên phong kiến tạo mô hình phát triển mới, nơi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trên nền tảng văn hóa dân tộc nhân văn, tiếp tục đổi mới quan hệ sản xuất với tư cách mở đường và động lực, tiếp tục đổi mới phương thức sản xuất Việt Nam.
Đó là đòi hỏi phát triển rất mới mẻ và chưa từng có.
Nếu thế kỷ XX là thời đại của các dòng lý luận chính trị - xã hội thì thế kỷ XXI đang đòi hỏi sự kết hợp giữa lý luận chính trị và lý luận khoa học - công nghệ, mở rộng không gian lý luận kiến tạo đường lối chính trị quốc gia phù hợp phát triển đúng đắn, mạnh mẽ, bền vững mang tầm chiến lược, tối thiểu nhiều chục năm.
Lý luận chính trị - xã hội phải trả lời các câu hỏi: Phát triển vì ai? Nhà nước đóng vai trò gì? Công bằng xã hội là gì? Dân chủ là gì? Quan hệ giữa tăng trưởng với phát triển và công bằng?... Đây là lĩnh vực mà Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các lý thuyết phát triển xã hội tập trung nghiên cứu, thì lý luận khoa học - công nghệ - văn minh trả lời các câu hỏi mới: AI sẽ thay đổi xã hội thế nào? Dữ liệu là loại tài sản gì? Điện toán lượng tử sẽ tạo ra những biến đổi gì? Ý thức và trí tuệ có thể được mô phỏng đến đâu? Mô hình văn minh hậu công nghiệp là gì? Quan hệ giữa con người và hệ thống công nghệ ngày càng tự trị sẽ ra sao? Đây là những vấn đề mà lý luận thế kỷ XX chưa dự liệu đầy đủ.
Nếu lý luận chính trị trả lời câu hỏi phát triển vì cái gì và vì ai? thì lý luận khoa học - công nghệ và văn minh trả lời câu hỏi phát triển bằng cách nào trong điều kiện của thời đại mới? Nếu chỉ có lý luận chính trị mà thiếu lý luận văn minh thì có nguy cơ mục tiêu đúng nhưng không nhận diện và nắm bắt động lực mới của thời đại, thì rất khó thành công. Mặt khác, nếu chỉ có lý luận công nghệ mà thiếu lý luận chính trị thì có nguy cơ có thể giàu về công nghệ nhưng mất định hướng phát triển con người, rốt cuộc, sẽ chệch hướng đổi mới. Do đó, lý luận chính trị quy định mục tiêu, đến lượt lý luận văn minh sẽ lựa chọn phương tiện và động lực phát triển. Nghĩa là, hai mặt này bổ sung cho nhau, tạo thành cơ sở định hướng thực tiễn cho sự kiến tạo và phát triển chiến lược của đất nước.
Từ bài học lịch sử dân tộc và thời đại chỉ ra rằng, để biến thách thức thành thời cơ, hóa giải khủng hoảng, Việt Nam tiếp tục kiên định và kiên trì các định hướng chiến lược mà lý luận chính trị phải giải quyết.
Kiên định độc lập, tự chủ gắn liền với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng: Giữ vững nguyên tắc chiến lược nhưng linh hoạt về sách lược, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm tối thượng.
Phát triển thể chế toàn diện và đột phá: Xây dựng một thể chế số, thể chế pháp quyền, dân chủ, khai phóng lực lượng sản xuất và kích hoạt tối đa năng lực đổi mới sáng tạo của toàn dân.
Đặt con người làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng: Phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi. Không đánh đổi môi trường và các giá trị nhân văn lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Theo đó, phải kiến giải tối thiểu 4 phương diện phát triển căn bản mang tầm chiến lược 20 năm tới:
Về định vị chiến lược phát triển quốc gia: Không thể chỉ hỏi: Tăng trưởng bao nhiêu phần trăm, mà phải hỏi Việt Nam đứng ở đâu trong nền văn minh mới? Vị thế động lực của AI, của bán dẫn, của đổi mới sáng tạo, của kinh tế số... Nghĩa là, đây không chỉ là những câu hỏi về trình độ văn minh, càng quyết không chỉ hạn hẹp về kinh tế, mà rộng hơn và quyết định là địa chính trị song hành với địa văn hóa quốc gia.
Về đổi mới nền hành chính và quản trị quốc gia: Trong xã hội số, dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược, AI tham gia quản lý, kinh tế nền tảng phát triển... theo đó, cần kiến giải và hóa giải về chủ quyền quốc gia không gian mạng, về chủ quyền dữ liệu, về an ninh số, về quản trị thuật toán... sẽ ra sao và phương thức tổ chức thực tiễn như thế nào? Trong đó, chính trị, kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục, môi trường, không còn là những lĩnh vực tách biệt mà là các thành phần của cùng một hệ thống văn minh mang ý nghĩa định hướng tổ chức thực tiễn, thì giải quyết tổng thể và thống nhất trong nền quản trị quốc gia hiện đại ra sao?...
Về xây dựng và phát triển con người: Đây là đại sự quan trọng nhất, có ý nghĩa căn bản. Một xã hội có thể: Giàu hơn, hiện đại hơn, nhưng chưa chắc: Nhân văn hơn, hạnh phúc hơn, sáng tạo hơn. Lý luận văn minh phải trả lời: Con người trong kỷ nguyên AI sẽ phát triển theo hướng nào, hệ phẩm giá ra sao? Mối quan hệ giữa con người và AI và những hệ lụy tương lai ra sao? Khi vấn đề không còn là xã hội nên tổ chức như thế nào, mà là nền văn minh mới nên được kiến tạo như thế nào?...
Về phát triển nền văn hóa bản sắc và hiện đại. Văn hóa không phải là món đồ trang trí xa xỉ mà là sinh mệnh quốc gia, là tấm khiên bảo vệ và là thanh gươm mở lối cho dân tộc. Bản sắc văn hóa Việt Nam - với lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần hòa hiếu, nhân ái, khoan dung và khả năng thích ứng linh hoạt - chính là thứ vũ khí sắc bén nhất để chúng ta khẳng định vị thế độc tôn, bình đẳng và công minh với các cường quốc.
Nếu sa vào sự rập khuôn những công thức thành công ngoại nhập, áp dụng một cách máy móc các mô hình phát triển mà cắt đứt mối liên hệ với cội nguồn lịch sử, sớm muộn sẽ rơi vào thảm họa "vong bản ngay trên quê hương mình". Dân tộc có thể trở nên giàu có về vật chất nhưng lại là một kẻ hành khất về văn hóa, một bản sao mờ nhạt, một cái bóng ký sinh vào các trung tâm quyền lực ngoại bang. Thực tiễn lịch sử thế giới cũng cho thấy, khi một quốc gia mất đi bản sắc thì dẫu có sở hữu những tổ hợp công nghệ hiện đại, quốc gia đó vẫn đứng trước nguy cơ bị sụp đổ từ bên trong, bị thôn tính về mặt tâm thức bởi các hệ giá trị xa lạ. Bài toán đặt ra cho Việt Nam trong thời đại mới không phải là sự lựa chọn nhị nguyên giữa "hội nhập" hay "bản sắc", mà là hội nhập trên thế đứng bản sắc, hiện đại hóa trên nền tảng văn hóa dân tộc.
Về đổi mới giáo dục: Nếu nền văn minh mới dựa trên tri thức, sáng tạo, dữ liệu thì giáo dục phải chuyển từ học thuộc - thi cử sang tư duy hệ thống - nghiên cứu - sáng tạo, nhưng triết lý phát triển, lộ trình thực thi, bước đi thực tiễn, những điều kiện cần và đủ sẽ như thế nào? Cải cách giáo dục mang tính hưng quốc: Tri thức hóa xã hội, biến nguồn nhân lực vàng về số lượng thành nguồn nhân lực kim cương về chất lượng. Giáo dục phải khơi dậy tư duy phản biện, năng lực sáng tạo và lòng yêu nước cho thế hệ trẻ, biến họ thành những công dân toàn cầu mang trái tim Việt Nam.
Nếu nhìn từ góc độ hoạch định chiến lược phát triển quốc gia thì cách tiếp cận Việt Nam không chỉ cần phát triển một lý luận về phát triển xã hội chủ nghĩa và quản trị xã hội, mà còn cần xây dựng một nền lý luận về mô hình phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên số - AI - lượng tử - sinh học, với mục tiêu tối thượng phát triển con người, trên cơ sở nền tảng thống nhất về mô hình kinh tế tri thức, về vị trí của khoa học và công nghệ, về mô hình giáo dục, về mô hình quản trị quốc gia, về bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu và mang tầm chiến lược.
Theo đó, nắm lấy các phương diện trung tâm và chiến lược của công cuộc phát triển đất nước trong 20 năm tới: Một là: Giải phóng lực lượng sản xuất (số hóa, AI, chip bán dẫn, công nghệ lượng tử...); Hai là: Tinh gọn toàn diện bộ máy (cắt giảm tầng nấc trung gian, cải cách hệ thống chính trị...); Ba là: Phát triển văn hoá, con người (lấy hạnh phúc của Nhân dân làm gốc và mục tiêu tối thượng thống nhất với lợi ích cao nhất của quốc gia); Bốn là: Đối ngoại kiến tạo (chủ động xác lập và phát triển vị thế, sức mạnh đất nước trong tổng thể toàn cầu) để kiến tạo và phát triển đất nước.
Nói khái quát, hiện nay, hơn lúc nào hết, sự thấu thị thời cơ, khả năng giải phẫu khủng hoảng và trình độ giải quyết các mâu thuẫn chính phải là chìa khóa kiến tạo và phát triển lý luận chính trị đồng thời với lý luận khoa học và công nghệ nhằm hoàn thiện lý luận phát triển quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại và nhân văn. Nói cách khác là, kiến tạo chủ thuyết phát triển Việt Nam kỷ nguyên mới dẫn dắt Việt Nam tự chủ chiến lược, định vị vị thế, phát triển con đường và lộ trình phát triển phù hợp, tiến bước cùng các quốc gia phát triển và nhân loại.
3. Lựa chọn ưu tiên trong lộ trình tổng thể
Một trong những điểm sáng lý luận quan trọng nhất tại Đại hội XIV là việc Đảng chính thức bổ sung, hoàn thiện và nâng tầm "Lý luận về đường lối đổi mới" thành một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng. Đây là bước chín muồi về mặt nhận thức, khắc phục tình trạng vừa làm vừa dò dẫm, vừa thử nghiệm vừa bấp bênh. Và, hiện nay, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nền văn hóa Việt Nam dân tộc và hiện đại đã định hình rõ nét, được thực tiễn chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
Tuy nhiên, lý luận đổi mới trong kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi những định chuẩn mới mang tính cách mạng:
Trước hết, trên phương diện kinh tế: Phải giải quyết thành công mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, trong đó thị trường giữ vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng bằng luật pháp và chính sách, còn xã hội tham gia giám sát, phản biện. Tư duy này dứt khoát đoạn tuyệt với các tàn dư của cơ chế xin - cho, bảo hộ bao cấp biến tướng hoặc sự can thiệp hành chính thô bạo vào quy luật thị trường.
Phát triển động lực từ phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn: Bảo vệ môi trường là bảo vệ sinh mệnh dân tộc: Phát triển kinh tế phải gắn liền với sinh thái bền vững, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Đồng thời, chủ động chuyển đổi năng lượng: Đi đầu trong việc ứng dụng các nguồn năng lượng tái tạo, phát triển các mô hình đô thị thông minh, đô thị xanh, nông nghiệp công nghệ cao, bảo tồn đa dạng sinh học như một món quà vô giá cho tương lai, mà các doanh nghiệp dân tộc phải gánh vác, chứ không thể trông chờ và ỷ lại vào các doanh nghiệp FDI hay bất cứ mô thức nào khác.
Thứ hai, trên bình diện chính trị, xã hội: Lý luận phải trả lời được bài toán quản trị xã hội trong thời đại số. Khi không gian mạng trở thành không gian sinh tồn thứ hai của con người, các quan hệ xã hội đổi thay, đòi hỏi những phương thức quản trị linh hoạt, nhân văn nhưng nghiêm minh.
Để vượt qua những thách thức ngặt nghèo, con đường duy nhất là phải thực hiện những cú đột phá mang tính cách mạng, thay đổi tận gốc rễ phương thức vận hành của quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV đã vạch rõ lộ trình phát triển bằng những định hướng chiến lược mang tính hành động cao, không giáo điều, không chung chung. Nghĩa là, từ đột phá thể chế lập pháp (từ tư duy "quản lý" sang "khơi thông") tới cách mạng tinh gọn bộ máy (mô hình tinh - gọn - mạnh - hiệu lực) và thúc đẩy chuỗi động lực số, AI & xanh (động lực tăng trưởng GDP với mục tiêu tối thiểu 10%/năm).
Thứ ba, trên lĩnh vực đối ngoại kiến tạo: Xác lập vị thế đối tác chiến lược toàn cầu. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải là đối ngoại kiến tạo, với tâm thế tự chủ chiến lược, trong việc góp phần xây dựng các định chế quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, như an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc...
Tất cả sẽ như thế nào?
(còn nữa)











