Đột phá ngành hàng hải Việt Nam: Từ định hướng Nghị quyết đến hành động thực tiễn

Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 218/NQ-CP mở ra khung tư duy và lộ trình thực thi hoàn toàn mới nhằm hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và tự tin trên bản đồ hàng hải toàn cầu.

Ngày 28/7/ 2026, Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIV được ban hành, xác định tầm nhìn chiến lược có tính bước ngoặt: “Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và có năng lực cạnh tranh hàng đầu khu vực trong các ngành công nghiệp biển. Đưa biển trở thành không gian phát triển chiến lược, động lực tăng trưởng dài hạn... Phát triển công nghiệp hàng hải hiện đại, xanh, số, tự chủ và lưỡng dụng”.

Ngay sau đó, ngày 7/8/ 2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW. Đây không thuần túy là định hướng phát triển kinh tế ngành, mà là lời kêu gọi mở rộng không gian phát triển chiến lược của dân tộc.

Chuyển từ tư duy khai thác ven bờ sang tư duy đại dương, lấy hành lang kinh tế hướng biển làm trục kết nối lan tỏa chính là mệnh lệnh của thời đại. Đứng trước cơ hội lịch sử này, ngành hàng hải chỉ có thể bứt phá bằng những hành động thực chất, quyết liệt, dám vượt qua những lối mòn cũ.

Cảng Đà Nẵng. Ảnh: HHVN

Cảng Đà Nẵng. Ảnh: HHVN

Coi phát triển hàng hải là “quốc sách”

Việc phát triển hàng hải cần được Nhà nước đặt đúng vị trí là một quốc sách hàng đầu. Sự chuyển dịch này không thể dừng lại ở khẩu hiệu, mà phải cụ thể hóa bằng cơ chế đặc thù và nguồn lực vượt trội. Thực trạng hiện nay cho thấy, việc đội tàu trong nước ngay lập tức đảm nhận được phần lớn thị phần vận tải xuất nhập khẩu 20% là bài toán khó. Con đường thực tiễn duy nhất là từng bước gia tăng thị phần thông qua chính sách đòn bẩy đủ mạnh.

Nghị quyết số 218/NQ-CP của Chính phủ đã xác định các chỉ tiêu định lượng cụ thể đến năm 2030: Đội tàu biển Việt Nam đảm nhận 20% thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu; kéo giảm chi phí logistics xuống dưới 12% GDP và hình thành 5 - 6 trung tâm logistics hiện đại ngang tầm quốc tế.

Để đạt được mục tiêu này, Nhà nước cần khẩn trương ban hành các cơ chế tài chính đột phá như miễn, giảm thuế, phí hàng hải hay ưu đãi tín dụng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu ký hợp đồng dài hạn với chủ tàu nội địa. Song song đó là gói ưu đãi lãi suất hỗ trợ doanh nghiệp đóng mới các dòng tàu chuyên dụng như container, tàu chở khí hóa lỏng (LPG/LNG)... Đây là điều kiện tiên quyết để thương hiệu hàng hải Việt Nam hiện diện vững chắc trên các tuyến quốc tế.

Hiện đại, xanh - số hóa và tự chủ gắn liền với tính lưỡng dụng

Áp dụng chuẩn mực Quản trị ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) trong doanh nghiệp vận tải biển, cảng biển, đóng tàu… đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Kiểm soát phát thải, bảo vệ môi trường và bảo đảm phúc lợi người lao động chính là tấm "hộ chiếu xanh" để doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt tại các thị trường Châu Âu, Bắc Mỹ, Bắc Á.

Bắt kịp xu thế xanh hóa và số hóa toàn diện của Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) là con đường duy nhất để tự chủ nền kinh tế. Theo Nghị quyết 218/NQ-CP, Chương trình quốc gia về công nghiệp hàng hải và cơ khí biển sẽ được triển khai nhằm phát triển hệ thống cảng biển xanh, thông minh và đội tàu hiện đại. Đó là sự chủ động xây dựng hạ tầng cảng thông minh, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong điều phối luồng tuyến; sẵn sàng hạ tầng năng lượng sạch; và nâng cao năng lực tự chủ của ngành đóng tàu, phụ trợ nội địa.

Đặc biệt, yếu tố tự chủ phải gắn liền với tính lưỡng dụng, nơi cảng biển, hạ tầng và đội tàu không chỉ là mạch máu kinh tế thời bình, mà còn sẵn sàng chuyển trạng thái phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi đất nước yêu cầu.

Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển. Ảnh: H.Anh

Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển. Ảnh: H.Anh

Đột phá thể chế: xây dựng mô hình "chính quyền cảng"

Điểm nghẽn lớn kìm hãm sự phát triển của ngành hàng hải thời gian qua được nhìn nhận là ở khâu thể chế và cơ chế quản lý tập trung, thiếu sự linh hoạt tại địa phương.

Nghị quyết 218/NQ-CP đã nhấn mạnh giải pháp hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản trị biển và phân định rõ cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng. Đã đến lúc phải dũng cảm phân cấp mạnh mẽ cho các địa phương có biển, trong đó việc nghiên cứu xây dựng mô hình “chính quyền cảng” kiểu Việt Nam là đòi hỏi cấp thiết.

Một mô hình quản trị cảng hiện đại, tiệm cận chuẩn mực quốc tế nhưng vận dụng sáng tạo phù hợp với thể chế trong nước sẽ trao quyền chủ động cho địa phương trong đầu tư, khai thác hệ thống cảng bến, luồng hàng hải và logistics. Khi địa phương chịu trách nhiệm toàn diện về không gian kinh tế biển, các rào cản hành chính sẽ được dẹp bỏ, tối ưu hóa thời gian xử lý thủ tục và tạo động lực cạnh tranh bình đẳng cho toàn hệ thống cảng biển quốc

Giải pháp căn cơ cho bài toán thiếu hụt nhân lực

Mọi chiến lược hay công nghệ hiện đại đều trở thành vô nghĩa nếu thiếu nhân tố con người. Ngành hàng hải đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực ở cả khối "áo trắng" (chuyên gia quản lý, kỹ sư thiết kế, logistics) và khối "áo xanh" (thuyền viên, sĩ quan máy, công nhân đóng tàu…)

Hướng tới mục tiêu trên 45% lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ trong các ngành nghề biển đến năm 2030 theo Nghị quyết 218/NQ-CP, cần có giải pháp căn cơ. Cần sớm đưa nghề đi biển và các ngành kỹ thuật đặc thù vào danh mục nghề nghiệp đặc biệt để áp dụng cơ chế ưu đãi thuế, bảo hiểm và nhà ở.

Nhà nước cần đóng vai trò bệ đỡ thông qua chính sách hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, gắn kết đào tạo với địa chỉ sử dụng của doanh nghiệp. Đồng thời, nâng tầm đào tạo thành chiến lược "xuất khẩu thuyền viên" có tổ chức, đưa lao động hội nhập sâu vào thị trường quốc tế.

Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 218/NQ-CP đã mở ra khung tư duy và lộ trình thực thi hoàn toàn mới. Triển khai các định hướng chiến lược này không thể làm theo cách cũ hay dừng lại ở các văn bản mang tính thủ tục.

Bằng việc coi phát triển hàng hải là quốc sách, quyết liệt phân cấp quản lý qua mô hình chính quyền cảng kiểu Việt Nam, gắn chuyển đổi xanh - số với ESG và hoàn thành các chỉ tiêu hạ tầng, vận tải, nhân lực mà Nghị quyết 218/NQ-CP đã đề ra, chúng ta hoàn toàn có thể hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam vươn tầm trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và tự tin trên bản đồ hàng hải toàn cầu.

TS. Bùi Thiên Thu, GS. Đại học Okayama, Nhật Bản; Phó Chủ tịch thường trực Hội Cảng, Đường thủy, Thềm lục địa Việt Nam; nguyên Cục trưởng Cục Đường thủy nội địa Việt Nam

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/dot-pha-nganh-hang-hai-viet-nam-tu-dinh-huong-nghi-quyet-den-hanh-dong-thuc-tien-10427463.html