Đột phá thể chế nhằm phát triển lực lượng sản xuất mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh đột phá thể chế là động lực then chốt để giải phóng và phát huy các nguồn lực trong bối cảnh chuyển đổi số. Trong kỷ nguyên số, lực lượng sản xuất (LLSX) đang biến đổi sâu sắc dưới tác động của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các nền tảng số. LLSX mới được hình thành từ sự kết hợp của nhân lực số, công nghệ số và các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo (ĐMST), với đặc trưng là tính phi vật chất, tính kết nối và tốc độ đổi mới nhanh. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam phải phát triển LLSX mới nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực quan trọng trong hoàn thiện thể chế nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển kinh tế số-những nền tảng cốt lõi LLSX mới. Khung pháp lý liên quan đến Chính phủ điện tử, kinh tế số, an toàn thông tin và ĐMST từng bước được hình thành và hoàn thiện thông qua các văn bản như Chương trình chuyển đổi số quốc gia, Chiến lược phát triển Chính phủ số và các quy định về dữ liệu, an ninh mạng. Kinh tế số Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ngày càng đóng góp quan trọng vào nền kinh tế.

Theo số liệu của cơ quan thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng từ 12,87% năm 2021 lên khoảng 14,02% năm 2025, bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 13,2%...

Ảnh minh họa: mst.gov.vn

Ảnh minh họa: mst.gov.vn

Nhận thức và định hướng chính sách của Nhà nước về khoa học, công nghệ và ĐMST ngày càng rõ nét, phù hợp với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó xác định đây là động lực chủ yếu của tăng trưởng và nền tảng phát triển LLSX mới. Chi tiêu cho R&D (nghiên cứu và phát triển) của Việt Nam đạt khoảng 0,53% GDP (tương đương 2-3 tỷ USD/năm), cho thấy bước chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ. Tuy nhiên, mức này vẫn thấp so với trung bình thế giới (2,2% GDP), đặt ra yêu cầu tiếp tục đột phá thể chế nhằm thúc đẩy đầu tư cho khoa học, công nghệ, phát triển thị trường công nghệ và gắn kết hiệu quả giữa nghiên cứu với sản xuất.

Thực tiễn cho thấy quá trình phát triển LLSX mới ở Việt Nam vẫn bị cản trở bởi nhiều điểm nghẽn thể chế, làm hạn chế hiệu quả khai thác các nguồn lực như dữ liệu, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao. Trước hết thể hiện ở sự chậm thích ứng của hệ thống pháp lý trước tốc độ phát triển của công nghệ. Các lĩnh vực như AI, kinh tế nền tảng, tài sản số hay fintech (công nghệ tài chính) vẫn thiếu khung pháp lý rõ ràng; mức độ sẵn sàng pháp lý cho kinh tế số của Việt Nam chỉ ở mức trung bình trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Sự chồng chéo giữa các luật cũng làm gia tăng chi phí tuân thủ, khiến doanh nghiệp phải dành nhiều thời gian cho thủ tục hành chính. Những bất cập này càng rõ khi các thị trường yếu tố sản xuất phát triển chưa đồng bộ.

Cùng với đó, hệ sinh thái ĐMST còn hạn chế khi liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, đầu tư cho R&D chỉ khoảng 0,53% GDP, thấp hơn nhiều so với các nước, làm hạn chế khả năng hình thành công nghệ lõi. Ở khâu thực thi, bộ máy chính sách vẫn là “nút thắt” khi thủ tục hành chính chưa đáp ứng kỳ vọng, tình trạng “sợ sai” trong một bộ phận cán bộ làm giảm hiệu quả triển khai, nhất là trong các lĩnh vực mới. Năng lực quản trị số của Nhà nước còn hạn chế. Từ đó có thể thấy, dù đã có bước tiến trong hoàn thiện thể chế, các điểm nghẽn về pháp lý, thị trường yếu tố sản xuất, hệ sinh thái ĐMST và bộ máy thực thi vẫn là rào cản lớn; vấn đề cốt lõi không phải thiếu nguồn lực mà là thể chế chưa đủ năng lực để giải phóng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong kỷ nguyên số.

Nguyên nhân của những hạn chế trên trước hết xuất phát từ tư duy xây dựng thể chế chưa theo kịp yêu cầu của nền kinh tế số. Thể chế vẫn thiên về quản lý, tiền kiểm, chưa tạo không gian cho ĐMST, dẫn đến “độ trễ thể chế” khi pháp luật đi sau thực tiễn công nghệ. Các lĩnh vực như fintech, kinh tế nền tảng hay AI phát triển nhanh nhưng khung pháp lý chưa theo kịp, khiến doanh nghiệp phải “vừa làm vừa dò đường”, gia tăng chi phí và rủi ro. Cùng với đó, việc thiếu các cơ chế thử nghiệm chính sách linh hoạt như “sandbox” (khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát) khiến nhiều mô hình kinh doanh mới không có cơ hội triển khai chính thức, phải hoạt động trong “vùng xám pháp lý”, hoặc không thể triển khai. Sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan cũng làm gia tăng tình trạng “phân mảnh thể chế”, dẫn đến chính sách chồng chéo, thiếu đồng bộ, làm giảm hiệu quả thực thi và niềm tin của doanh nghiệp...

Để đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống và thúc đẩy phát triển LLSX mới trong kỷ nguyên số, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện thể chế theo hướng cải tiến, mà cần thiết lập các cơ chế thể chế mới mang tính mở đường, tạo ra sự thay đổi căn bản trong phân bổ và sử dụng các nguồn lực. Đầu tiên là thiết lập cơ chế pháp lý thử nghiệm có tính ngoại lệ (sandbox mở rộng). Cần phát triển cơ chế sandbox không chỉ trong một số lĩnh vực hẹp, mà mở rộng thành công cụ thể chế trung tâm cho ĐMST. Theo đó, cho phép áp dụng các quy định pháp lý “ngoại lệ có kiểm soát” đối với các mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực như AI, fintech, kinh tế nền tảng. Điểm đột phá nằm ở chỗ: Sandbox không chỉ là thử nghiệm kỹ thuật, mà là cơ chế thể chế linh hoạt, giúp rút ngắn độ trễ giữa đổi mới công nghệ và điều chỉnh pháp luật, qua đó chuyển từ tư duy “quản lý cái đã có” sang “dẫn dắt cái đang hình thành”.

Bên cạnh đó, một đột phá căn bản là cần chính thức thừa nhận dữ liệu là một loại tài sản trong nền kinh tế, từ đó xác lập quyền sở hữu, quyền khai thác, cơ chế định giá và giao dịch dữ liệu. Trên cơ sở đó, xây dựng thị trường dữ liệu với các thiết chế trung gian. Đây là bước chuyển từ “quản lý dữ liệu” sang “khai thác dữ liệu như một yếu tố sản xuất”.

Để khắc phục tình trạng “sợ sai”, cần xây dựng cơ chế miễn trừ trách nhiệm có điều kiện đối với cán bộ, công chức khi thực hiện các quyết định đổi mới trong khuôn khổ thí điểm chính sách. Cơ chế này phải đi kèm với tiêu chí rõ ràng, minh bạch và giám sát phù hợp, qua đó tạo “không gian thể chế an toàn” cho đổi mới. Đây là điều kiện then chốt để chuyển bộ máy từ trạng thái thụ động sang kiến tạo phát triển.

Thay vì chủ yếu dựa vào khu vực công, cần chuyển sang mô hình doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống ĐMST, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và dẫn dắt thông qua cơ chế đặt hàng. Cụ thể, Nhà nước cần trở thành “khách hàng lớn” của ĐMST thông qua: Đặt hàng nghiên cứu, phát triển công nghệ; mua sắm công nghệ trong nước; hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu. Đây là bước chuyển từ hỗ trợ phân tán sang tái cấu trúc hệ sinh thái đổi mới, gắn nghiên cứu với thị trường.

Kinh tế số đòi hỏi một cơ chế điều phối vượt ra ngoài cách tiếp cận phân ngành truyền thống. Do đó, cần thiết lập đầu mối điều phối liên ngành đủ thẩm quyền, có khả năng tích hợp chính sách giữa các lĩnh vực như công nghệ, tài chính, giáo dục và dữ liệu. Đây là đột phá về thể chế quản trị, nhằm khắc phục tình trạng phân mảnh, chồng chéo và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.

Những giải pháp trên là điều kiện để phát triển LLSX mới và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

TS HỒ THANH THỦY

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/chinh-tri/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/nghi-quyet-va-cuoc-song/dot-pha-the-che-nham-phat-trien-luc-luong-san-xuat-moi-1033651