Dự án tốt cho môi trường vẫn khó vay vốn xanh
Nhu cầu vốn chuyển đổi xanh ngày càng lớn, nhưng doanh nghiệp vẫn phải chứng minh hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ và mức giảm phát thải để tiếp cận tín dụng.
Nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh của Việt Nam rất lớn trong khi các dự án phải đồng thời chứng minh hiệu quả môi trường, khả năng sinh lời và năng lực trả nợ.
Khoảng cách giữa mục tiêu xanh và tính khả thi tài chính vì thế trở thành “điểm nghẽn” cần giải quyết nếu muốn tín dụng thực sự đi vào các hoạt động chuyển đổi.

Các chuyên gia cho rằng tín dụng xanh cần gắn chặt mục tiêu giảm phát thải với khả năng trả nợ. Ảnh: DP
Tại hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” do Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức mới đây, các diễn giả nhấn mạnh khoảng cách giữa nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh và khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp.
Dù dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng, việc giải ngân vẫn phụ thuộc vào khả năng chứng minh hiệu quả tài chính, năng lực trả nợ và kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng của từng dự án.
Khoảng cách giữa nhu cầu vốn và dự án có thể vay
Quy mô đầu tư cần thiết cho chuyển đổi xanh cho thấy áp lực huy động vốn trong những năm tới. Theo ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, Việt Nam cần bổ sung khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư cho khí hậu đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, khoảng 254 tỷ USD dành cho thích ứng và tăng khả năng chống chịu, còn 114 tỷ USD dành cho giảm nhẹ phát thải.
Riêng nhu cầu vốn cho phát triển nguồn điện và lưới truyền tải trong giai đoạn 2026–2030 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh lên tới khoảng 136 tỷ USD. Những con số này đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực dài hạn, trong đó tín dụng ngân hàng giữ vai trò quan trọng nhưng khó có thể gánh toàn bộ nhu cầu đầu tư.

Theo ông Giáp, nguồn vốn cần dành cho cả hoạt động đã đáp ứng tiêu chí môi trường. Ảnh: HT
Ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thuộc NHNN, cho biết dư nợ tín dụng xanh đến cuối tháng 6/2026 đạt hơn 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025.
Giai đoạn 2017–2025, tín dụng xanh tăng trưởng bình quân hơn 20% mỗi năm. Cùng với đó, dư nợ cho vay được đánh giá có rủi ro môi trường và xã hội đạt hơn 6,2 triệu tỷ đồng.
Tốc độ tăng trưởng cho thấy tín dụng xanh đã hình thành một dòng vốn đáng kể trong hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, quy mô nhu cầu đầu tư khí hậu cũng cho thấy việc mở rộng dư nợ mới chỉ là một phần của câu chuyện. Vốn có thể được giải ngân khi doanh nghiệp đưa ra dự án đủ điều kiện thẩm định với phương án sử dụng vốn và dòng tiền trả nợ rõ ràng.
Đây là điểm được ông Nguyễn Việt Long, Phó tổng giám đốc phụ trách tư vấn của EY Việt Nam, nhấn mạnh khi đề cập đến yêu cầu chuẩn bị dự án.
Theo ông Long, các tiêu chí xanh cần được tích hợp từ giai đoạn thiết kế cùng với việc chứng minh tính khả thi về tài chính và khả năng trả nợ. Một dự án có tác động tích cực đến môi trường vẫn cần hồ sơ tài chính, dòng tiền và các căn cứ đủ tin cậy để ngân hàng đánh giá.
Với doanh nghiệp, điều đó đồng nghĩa việc xác định dự án là xanh mới chỉ là bước khởi đầu. Doanh nghiệp còn phải làm rõ tổng mức đầu tư, vốn tự có, chi phí vận hành, tiến độ triển khai và nguồn tiền trả nợ trong suốt vòng đời khoản vay. Nếu những dữ liệu này chưa đủ, lợi ích môi trường khó có thể thay thế phần còn thiếu trong hồ sơ tín dụng.
Lợi ích môi trường không thay thế được khả năng trả nợ
Sự khác biệt giữa hiệu quả môi trường và hiệu quả tài chính thể hiện rõ ở các dự án cần vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài hoặc phụ thuộc vào công nghệ mới.
Chi phí đầu tư ban đầu cao trong khi lợi ích tài chính cần thời gian để hình thành, khiến doanh nghiệp chịu áp lực trả nợ nếu kỳ hạn vay không phù hợp với chu kỳ hoàn vốn.
MIZA, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tái chế giấy, đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải, lò hơi sinh khối thay thế nhiên liệu hóa thạch, điện mặt trời mái nhà và công nghệ xử lý nước thải bằng vi sinh.
Theo ông Nguyễn Hữu Tú, Phó tổng giám đốc MIZA, doanh nghiệp đã tiếp cận tín dụng xanh từ BIDV với lãi suất thuận lợi hơn thị trường, đồng thời phát hành trái phiếu xanh và tham gia các dự án tín chỉ carbon. Tuy nhiên, nguồn thu từ tín chỉ carbon chưa thể mặc nhiên được coi là căn cứ bảo đảm trả nợ.

Bốn điểm nghẽn cản trở dòng vốn xanh. Ảnh: HT
Ông Bùi Minh Giáp cho rằng ngân hàng cần đánh giá khả năng phát hành tín chỉ, sản lượng được xác nhận, người mua, giá bán, chi phí thẩm định và thời điểm thu tiền. Thỏa thuận mua trước cũng không bảo đảm tín chỉ sẽ được phát hành và bàn giao đầy đủ.
Trong khi đó, ông Tú cho biết chi phí đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả giảm phát thải có thể lên tới hàng chục nghìn USD mỗi đợt.
Vì vậy, giảm phát thải chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể phát hành tín chỉ để tạo doanh thu. Việc xác minh chậm hoặc sản lượng, giá bán thấp hơn dự kiến đều có thể ảnh hưởng đến dòng tiền trả nợ.
Ngân hàng do đó cần kiểm tra khả năng trả nợ trong cả kịch bản doanh thu carbon thấp hơn dự kiến hoặc đến chậm.
Mặt khác, bản thân doanh nghiệp cũng cần phân biệt dòng tiền từ hoạt động sản xuất với nguồn thu tiềm năng từ tín chỉ carbon. Hiệu quả môi trường là một tiêu chí quan trọng, nhưng dự án vẫn phải chứng minh được tính khả thi tài chính và khả năng trả nợ.
Thiết kế nguồn vốn phù hợp
Giải pháp thúc đẩy tín dụng xanh cần tập trung vào nâng cao chất lượng dự án và thiết kế công cụ tài chính phù hợp thay vì nới lỏng tiêu chuẩn cho vay.
Theo ông Giáp, nguồn vốn cần dành cho cả hoạt động đã đáp ứng tiêu chí môi trường và doanh nghiệp đang chuyển đổi với kế hoạch giảm phát thải rõ ràng, có thể đo lường và kiểm chứng.
Để tiếp cận vốn, doanh nghiệp cần cung cấp dữ liệu phát thải, phương án công nghệ, kế hoạch đầu tư, chi phí vận hành và dòng tiền trả nợ. Với dự án dự kiến thu tiền từ tín chỉ carbon, cần làm rõ khả năng phát hành, quyền sở hữu, người mua, chi phí xác minh và thời điểm thu tiền.
Ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong cung ứng vốn, nhưng khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn cho tài trợ xanh và chuyển đổi. Vì vậy, cần đa dạng hóa nguồn vốn thông qua việc kết hợp tín dụng với trái phiếu xanh, trái phiếu chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp cùng các cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro.
Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chính sách hỗ trợ có thể triển khai theo nhiều cách. Trung Quốc cung cấp nguồn vốn lãi suất thấp cho các khoản vay đủ điều kiện trong lĩnh vực năng lượng sạch và giảm phát thải, với mức hỗ trợ tương đương 60% giá trị khoản vay trong giai đoạn 2021–2027.
Nhật Bản hỗ trợ ngân hàng dựa trên các khoản vay hoặc dự án đáp ứng tiêu chí khí hậu, trong khi Singapore chú trọng nâng cao năng lực quản trị rủi ro môi trường và tài trợ chuyển đổi.
Vị lãnh đạo ADB cho rằng Việt Nam cần củng cố tiêu chí phân loại xanh, dữ liệu và quy trình thẩm định trước khi xem xét các chương trình hỗ trợ tài chính thí điểm.
Ngân hàng vẫn phải chịu trách nhiệm về quyết định cấp tín dụng. Bên cạnh vốn vay, trái phiếu xanh, vốn cổ phần, bảo lãnh và tài trợ kết hợp có thể giúp đa dạng hóa nguồn vốn, nhất là với dự án có thời gian hoàn vốn dài.
Do vậy, tín dụng xanh cần gắn chặt mục tiêu giảm phát thải với khả năng trả nợ. Doanh nghiệp phải chứng minh hiệu quả môi trường bằng dữ liệu đáng tin cậy và xây dựng phương án tài chính khả thi; ngân hàng cần xem tiêu chí xanh là một phần của thẩm định, không phải yếu tố thay thế các nguyên tắc tín dụng.
Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/du-an-tot-cho-moi-truong-van-kho-vay-von-xanh-d48097.html

