Dư địa giảm lãi suất còn đến đâu?
Lãi suất huy động đồng loạt giảm cùng với các biện pháp hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước đang tạo điều kiện để các ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất cho vay, chia sẻ chi phí với người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, mức giảm và tốc độ điều chỉnh thời gian tới còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chi phí vốn, chất lượng tín dụng và diễn biến kinh tế vĩ mô.
Chi phí vốn giảm, kỳ vọng lãi vay hạ thêm
Nỗ lực giảm lãi suất của hệ thống ngân hàng đang từng bước phản ánh vào các khoản vay mới. Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), toàn bộ 46/46 ngân hàng thương mại đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên theo chỉ đạo của cơ quan quản lý. Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng 100% vốn nước ngoài giảm phổ biến 0,5 điểm phần trăm/năm; nhóm ngân hàng thương mại cổ phần giảm phổ biến từ 0,5–0,7 điểm phần trăm/năm.
Cuối tháng 10/2026, lãi suất tiền gửi phát sinh mới bình quân giảm khoảng 0,4 điểm phần trăm/năm so với giữa tháng. Cùng thời gian, lãi suất cho vay phát sinh mới bình quân giảm khoảng 0,2–0,5 điểm phần trăm/năm. Hơn 20 ngân hàng đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi với mức giảm từ 1,5–2 điểm phần trăm/năm. Đây là mức giảm trong các chương trình cụ thể, có điều kiện và đối tượng áp dụng riêng.

Lãi suất huy động đồng loạt giảm cùng với các biện pháp hỗ trợ thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước đang tạo điều kiện để các ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất cho vay
Trong cập nhật triển vọng ngành Ngân hàng, SSI Research nhận định các ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục hỗ trợ nền kinh tế thông qua việc giảm cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Tuy nhiên, quá trình này có thể gây áp lực lên biên lãi ròng (NIM) trong ngắn hạn.
Lãi suất huy động giảm tạo cơ sở để hạ lãi suất cho vay, nhưng cần thời gian để tác động đầy đủ đến chi phí vốn. Các khoản tiền gửi hiện hữu chưa đồng loạt đáo hạn, nên ngân hàng vẫn phải trả lãi theo mức đã thỏa thuận. Khi các khoản tiền gửi này được thay thế hoặc tái tục theo mặt bằng lãi suất thấp hơn, chi phí vốn bình quân mới dần giảm xuống.
Theo SSI Research, nền tảng huy động vốn vững chắc và chi phí vốn thấp giúp ngân hàng giảm áp lực lên NIM, đồng thời linh hoạt đưa ra mức lãi suất cho vay cạnh tranh. Vì vậy, khả năng giảm thêm lãi suất sẽ khác nhau giữa các ngân hàng, tùy thuộc cơ cấu nguồn vốn, thanh khoản và năng lực quản trị.
Dù vậy, lãi suất đầu vào trong những tháng cuối năm vẫn chịu sức ép từ nhu cầu vốn. Theo báo cáo vĩ mô quý III/2026 của VCBS, lãi suất huy động có thể đi ngang trong quý IV và đến cuối năm do các ngân hàng cần bảo đảm nguồn vốn đáp ứng nhu cầu tín dụng. KBSV cũng nhận định mặt bằng lãi suất có thể ổn định quanh vùng hiện tại, không xuất hiện thêm đợt tăng đột biến nhờ kỳ vọng dòng tiền từ giải ngân đầu tư công và các biện pháp hỗ trợ thanh khoản.
Tuy nhiên, để lãi suất thấp hơn thực sự hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, người vay cần tiếp cận được nguồn vốn. Theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, khả năng tiếp cận tín dụng còn phụ thuộc vào hồ sơ pháp lý, mức độ minh bạch tài chính, dòng tiền và triển vọng kinh doanh. Giảm lãi suất sẽ phát huy hiệu quả hơn khi những điểm nghẽn này được xử lý đồng thời.
Ông Huy cho rằng, ngân hàng cần hướng dẫn khách hàng chuẩn bị hồ sơ đầy đủ ngay từ đầu, công khai điều kiện, thời hạn xử lý và tổng chi phí vay. Số hóa cần gắn với tinh gọn quy trình, hạn chế yêu cầu cung cấp lại thông tin. Việc thẩm định cần kết hợp đánh giá tài sản bảo đảm với khả năng tạo dòng tiền. Các hình thức tài trợ theo chuỗi, khoản phải thu hoặc đơn hàng được kiểm chứng có thể mở thêm cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, phù hợp pháp luật và năng lực quản trị.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cần chuẩn hóa kế toán, minh bạch công nợ và chủ động trao đổi với ngân hàng khi dòng tiền biến động. Theo ông Huy, việc phân biệt khó khăn thanh khoản tạm thời với sự suy giảm hiệu quả mang tính cơ cấu sẽ giúp lựa chọn biện pháp hỗ trợ phù hợp, duy trì cơ hội phục hồi cho doanh nghiệp và bảo vệ nguồn lực ngân hàng.
Giảm bền vững cần thêm nhiều điều kiện
Bên cạnh chi phí huy động, chất lượng tín dụng cũng chi phối khả năng giảm lãi suất. Khi nợ xấu gia tăng, ngân hàng phải dành thêm nguồn lực trích lập dự phòng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tiếp tục chia sẻ chi phí với khách hàng.
SSI Research lưu ý mặt bằng lãi suất vẫn tạo áp lực lên khả năng trả nợ của doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ gia đình và khách hàng cá nhân. Đặc biệt, nợ xấu từ hoạt động cho vay mua nhà được dự báo có thể bộc lộ rõ hơn, làm gia tăng gánh nặng trích lập dự phòng trong những quý tới. Theo SSI Research, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng trong danh mục theo dõi đạt 89.100 tỷ đồng trong quý III/2026, tăng 18,9% so với cùng kỳ nhưng giảm 6,9% so với quý trước. Mức giảm theo quý chủ yếu đến từ nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, với lợi nhuận giảm 16,5% sau nền lợi nhuận cao trong quý II.
Đơn vị này dự đoán lợi nhuận trước thuế quý IV/2026 của các ngân hàng trong danh mục theo dõi đạt 96.700 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ và tăng 8,5% so với quý III. Dù vậy, trước sức ép về chất lượng tài sản và khả năng NIM thu hẹp, SSI Research tiếp tục ưu tiên các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt, bộ đệm dự phòng dày.
Do đó, đánh giá dư địa giảm lãi suất cần xem xét đồng thời kết quả kinh doanh, chi phí vốn và yêu cầu dự phòng rủi ro. Lợi nhuận tăng chưa đủ để xác định ngân hàng có thể giảm thêm bao nhiêu lãi suất. Việc hỗ trợ khách hàng cần gắn với duy trì nguồn lực xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hoạt động.
Khả năng giảm lãi suất lâu dài còn phụ thuộc vào môi trường kinh tế vĩ mô. KBSV lưu ý, khả năng giảm lãi suất bền vững, nhất là ở các kỳ hạn dài, phụ thuộc đáng kể vào diễn biến lạm phát và giá dầu. Khi áp lực giá cả hạ nhiệt, điều kiện điều hành tiền tệ sẽ thuận lợi hơn.
Cùng với chính sách tiền tệ, các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc nâng khả năng trả nợ và giảm rủi ro tín dụng. Theo ông Nguyễn Quang Huy, chính sách tài khóa cần phối hợp thông qua đầu tư công hiệu quả, thanh toán đúng hạn và xử lý thủ tục hoàn thuế kịp thời. Tháo gỡ vướng mắc pháp lý dự án, cải thiện logistics và bảo đảm năng lượng sẽ hỗ trợ đầu ra, nâng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
Như vậy, dư địa giảm lãi suất vẫn còn, nhưng mức giảm và tốc độ điều chỉnh phụ thuộc vào điều kiện của từng ngân hàng cũng như diễn biến thị trường. Chi phí vốn giảm, hoạt động hiệu quả hơn và rủi ro tín dụng được kiểm soát sẽ tạo cơ sở để ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất cho vay.
Về định hướng điều hành thời gian tới, NHNN cho biết sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Cơ quan điều hành sẽ chủ động điều tiết thanh khoản, cung ứng nguồn vốn cho thị trường để tạo điều kiện giảm mặt bằng lãi suất; đồng thời điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp với cung cầu ngoại tệ và diễn biến kinh tế vĩ mô.
Trong hai tháng cuối năm, NHNN sẽ theo dõi sát diễn biến tín dụng, bảo đảm dòng vốn tập trung vào sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Các tổ chức tín dụng được yêu cầu tiếp tục tiết giảm chi phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quy trình cấp tín dụng, giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn nhanh chóng, thuận lợi hơn.
NHNN cũng sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng thương mại giảm cả lãi suất huy động và cho vay, đồng thời có biện pháp xử lý những tổ chức tín dụng không thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN. Song song với đó, các biện pháp hỗ trợ thanh khoản, bổ sung nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng tiếp tục được duy trì, tạo thêm điều kiện giảm mặt bằng lãi suất trong thời gian tới.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/du-dia-giam-lai-suat-con-den-dau-190295.html


