Đưa nông sản Đà Nẵng vươn xa

Sau khi mở rộng không gian địa giới, Đà Nẵng có thêm nhiều lợi thế về quỹ đất, vùng nguyên liệu và các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và nâng cao giá trị gia tăng.

Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nông sản địa phương. Ảnh: VĨNH LỘC

Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nông sản địa phương. Ảnh: VĨNH LỘC

Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe, để nông sản địa phương chinh phục người tiêu dùng và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu, yếu tố quyết định không còn là sản lượng, giá rẻ mà là chất lượng, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và sự đồng hành của cả chuỗi sản xuất - tiêu thụ.

Khơi thông dư địa phát triển nông nghiệp xanh

Đà Nẵng hiện có hơn 200.700ha đất sản xuất nông nghiệp, diện tích gieo trồng hằng năm hơn 152.500ha với nhiều nhóm cây trồng chủ lực như: lúa, ngô, rau màu, cây ăn quả và cây dược liệu. Nhiều đặc sản như: sâm Ngọc Linh, quế Trà My đang từng bước khẳng định giá trị trên thị trường, mở ra cơ hội phát triển thành những sản phẩm hàng hóa quy mô lớn.

Cùng với việc mở rộng diện tích sản xuất, chất lượng nông sản cũng từng bước được nâng lên. Trong số diện tích trên, gần 590ha cây trồng đã được chứng nhận VietGAP; 52 mã số vùng trồng được cấp phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Nhiều mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh gắn với phát triển du lịch trải nghiệm đã mang lại hiệu quả tích cực; góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản địa phương.

Theo bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, thành phố đang triển khai Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 với mục tiêu đưa diện tích sản xuất hữu cơ đạt từ 2,5 - 3% tổng diện tích đất nông nghiệp; đồng thời phát triển từ 5-7 sản phẩm hữu cơ chủ lực mang thương hiệu “Nông nghiệp hữu cơ Đà Nẵng”.

Để đạt mục tiêu này, thành phố tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh; hỗ trợ đổi mới công nghệ, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, xây dựng thương hiệu và nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản. Cùng với đó là mở rộng áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, sản xuất hữu cơ, sử dụng chế phẩm sinh học, tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tuy vậy, quá trình chuyển đổi gặp không ít khó khăn. Quy mô sản xuất ở nhiều nơi còn nhỏ lẻ, phân tán; chi phí đầu tư và chứng nhận chất lượng còn cao; liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ chưa thật sự bền vững. Cạnh đó là rào cản trong truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường...

Theo bà Hậu, để nông nghiệp phát triển bền vững, không thể chỉ dựa vào nỗ lực của người nông dân mà cần sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã, hệ thống phân phối và người tiêu dùng. Đặc biệt, việc hình thành các chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến tiêu thụ sẽ giúp nông sản vừa bảo đảm chất lượng, vừa có đầu ra ổn định, nâng cao giá trị trên thị trường.

Xây dựng niềm tin để hàng Việt chinh phục thị trường

Tại tọa đàm “Tiêu dùng hàng Việt, trách nhiệm và hành động của nông dân” do Hội Nông dân thành phố tổ chức chiều 10/7, nhiều ý kiến khẳng định, phát triển nông nghiệp xanh không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản trong giai đoạn mới.

Thực tế dù sở hữu nhiều sản phẩm đặc trưng, nhưng mỗi năm Đà Nẵng vẫn phải nhập khoảng 90% lượng nông sản, thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Sản xuất tại chỗ mới đáp ứng hơn 10% nhu cầu thị trường.

Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông sản ký cam kết sản xuất an toàn tại tọa đàm. Ảnh: VĨNH LỘC

Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông sản ký cam kết sản xuất an toàn tại tọa đàm. Ảnh: VĨNH LỘC

Theo bà Lê Thị Minh Tâm, Chủ tịch Hội Nông dân thành phố, muốn hàng Việt đứng vững trên thị trường thì trước hết phải được chính người Việt tin dùng. Thời gian qua, các cấp hội đã đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ hội viên sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; phát triển sản phẩm OCOP; xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và kết nối tiêu thụ thông qua các hội chợ, phiên chợ hàng Việt cũng như các nền tảng thương mại điện tử.

Điểm nghẽn nằm ở chỗ liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, hợp tác xã chưa chặt chẽ; khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn còn hạn chế. Nhiều sản phẩm OCOP dù đạt chất lượng nhưng vẫn gặp khó trong xây dựng thương hiệu, mở rộng hệ thống phân phối và thương mại hóa sản phẩm.

Cạnh đó, quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp diễn ra chưa đồng đều. Không ít hợp tác xã và hộ sản xuất còn hạn chế về kỹ năng bán hàng trực tuyến, xây dựng thương hiệu số và khai thác các sàn thương mại điện tử.

Ngày nay sản phẩm nông sản không chỉ chất lượng mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn về xanh, sạch, an toàn. Ảnh: VĨNH LỘC

Ngày nay sản phẩm nông sản không chỉ chất lượng mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn về xanh, sạch, an toàn. Ảnh: VĨNH LỘC

Bà Huỳnh Thị Thu, Chủ tịch Hội Nông dân phường Hòa Xuân cho rằng, muốn người dân ưu tiên sử dụng hàng Việt thì trước hết người nông dân phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng. Đến nay, Hòa Xuân duy trì 45 mô hình nông nghiệp đô thị tiêu biểu như: sản xuất rau, lúa hữu cơ, chăn nuôi ứng dụng đệm lót sinh học, nông nghiệp tuần hoàn, trồng hoa thương phẩm và hoa lan chất lượng cao.

Đáng chú ý, 100% hội viên nông dân xã đã cài đặt ứng dụng "Nông dân Việt Nam" và hơn 300 hội viên tham gia bán hàng trên các nền tảng số, góp phần đưa nông sản địa phương đến gần hơn với người tiêu dùng.

Ông Huỳnh Xuân Sơn, Phó Giám đốc Sở Công Thương cho biết, người nông dân vừa là chủ thể sản xuất, vừa là người tiêu dùng. Những năm qua, ngành công thương triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng nhãn hiệu, bao bì, truy xuất nguồn gốc, kết nối cung cầu và mở rộng thị trường.

Bình quân mỗi năm, thành phố tổ chức hơn 10 hội chợ, triển lãm, chương trình xúc tiến thương mại; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử, tiếp thị đa kênh và bán hàng trên môi trường số, tạo điều kiện để nông sản từng bước tham gia sâu hơn vào hệ thống phân phối hiện đại.

Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, người nông dân phải thay đổi tư duy từ sản xuất theo thói quen sang sản xuất theo nhu cầu thị trường. Ảnh: VĨNH LỘC

Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, người nông dân phải thay đổi tư duy từ sản xuất theo thói quen sang sản xuất theo nhu cầu thị trường. Ảnh: VĨNH LỘC

ợi thế cạnh tranh của nông sản hiện nay không còn nằm ở giá rẻ mà phải được tạo dựng từ chất lượng, tiêu chuẩn sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số và uy tín thương hiệu"

Do đó, để nông sản vươn xa, thì doanh nghiệp và hợp tác xã đóng vai trò kết nối thị trường; còn người nông dân phải thay đổi tư duy từ sản xuất theo thói quen sang sản xuất theo nhu cầu thị trường.

Khi người sản xuất đặt chất lượng lên hàng đầu, doanh nghiệp đồng hành trong xây dựng chuỗi giá trị và người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn những sản phẩm an toàn, minh bạch nguồn gốc, nông sản địa phương sẽ có thêm cơ hội nâng cao giá trị, mở rộng thị trường và từng bước vươn xa.

VĨNH LỘC

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/dua-nong-san-da-nang-vuon-xa-3343929.html