Đưa Việt Nam vươn tầm quốc gia biển mạnh bằng tri thức và công nghệ

Không chỉ nghiên cứu về biển, khai thác biển, mà phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chuyển từ tư duy ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ

Sáng ngày 21/8, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo Khoa học & Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết 20. Sự kiện được tổ chức tại phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Phát biểu khai mạc, ông Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) cho biết, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28 tháng 7 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra một yêu cầu mới, có ý nghĩa chiến lược đối với ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đó là chúng ta không chỉ nghiên cứu về biển, khai thác biển, mà phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Ông Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Mai Hà

Ông Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Mai Hà

"Nếu trước đây khoa học và công nghệ chủ yếu được nhìn nhận là công cụ hỗ trợ cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế biển, thì trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra cao hơn nhiều: khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; nền tảng để phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững; đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quản trị biển, đại dương khu vực và quốc tế. Nói cách khác, không gian biển phải trở thành một không gian phát triển dựa trên tri thức và công nghệ", ông Vũ Hải Quân nói,

Ngày 7 tháng 8 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 218/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Đối với Bộ Khoa học và Công nghệ, các nhiệm vụ được giao không phải là những nhiệm vụ riêng lẻ, mà là một hệ thống liên kết giữa nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực, hạ tầng nghiên cứu và hợp tác quốc tế.

Câu hỏi đặt ra, ngành khoa học và công nghệ phải làm gì để Việt Nam chuyển từ vị thế có biển, khai thác biển sang từng bước làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ và không gian phát triển biển?

Các đại biểu tham dự hội thảo. Ảnh: Mai Hà

Các đại biểu tham dự hội thảo. Ảnh: Mai Hà

Bộ trưởng Bộ KH&CN cho rằng, để trả lời câu hỏi đó, trong giai đoạn 2026–2030, ngành khoa học và công nghệ cần tập trung vào một số định hướng lớn sau đây.

Thứ nhất, phải hình thành năng lực nghiên cứu biển mạnh, có trọng tâm và có khả năng dẫn dắt. Chỉ tiêu hình thành từ 2–3 tổ chức nghiên cứu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN không nên được nhìn đơn thuần là một chỉ tiêu về số lượng tổ chức. Đây phải được coi là chỉ tiêu về năng lực quốc gia.

Chúng ta cần những tổ chức có khả năng tập hợp đội ngũ chuyên gia mạnh, sở hữu hạ tầng nghiên cứu hiện đại, làm chủ dữ liệu và công nghệ, giải quyết được các bài toán lớn của quốc gia và có khả năng tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế.

Thứ hai, phải coi dữ liệu biển là một loại hạ tầng chiến lược của quốc gia. Quản trị biển hiện đại trước hết phải dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học.

Chúng ta cần xây dựng được hệ thống dữ liệu biển có tính thống nhất, liên thông, cập nhật và an toàn; kết nối dữ liệu điều tra cơ bản, dữ liệu quan trắc, dữ liệu môi trường, tài nguyên, hạ tầng và các hoạt động kinh tế - xã hội trên biển; phát triển bản đồ số biển và đại dương, các công cụ mô hình hóa, dự báo và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ quản lý, quy hoạch, cảnh báo và ra quyết định.

Đồng thời, phải giải quyết tốt bài toán chuẩn hóa, tích hợp, chia sẻ, phân quyền khai thác và bảo đảm an ninh, an toàn, chủ quyền dữ liệu. Nếu dữ liệu còn phân tán, chúng ta khó có thể có quản trị biển hiện đại. Nếu không có dữ liệu đủ tốt, chúng ta cũng khó có thể làm chủ các công nghệ biển thế hệ mới.

Thứ ba, phải chuyển mạnh từ "ứng dụng công nghệ" sang "làm chủ công nghệ". Đây là một thay đổi rất quan trọng về tư duy.

Chúng ta cần xác định rõ những công nghệ biển, đại dương và công nghệ lưỡng dụng có ý nghĩa chiến lược đối với Việt Nam để tập trung nguồn lực nghiên cứu, tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ, chuyển giao và từng bước phát triển.

Trong đó cần quan tâm đến công nghệ quan trắc, giám sát và dự báo biển; khảo sát đáy biển và biển sâu; thiết bị ngầm, robot biển và phương tiện không người lái; công nghệ công trình biển và năng lượng ngoài khơi; công nghệ môi trường biển; nuôi biển công nghiệp; công nghệ sinh học biển và các công nghệ lưỡng dụng phục vụ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu đề tài hay bao nhiêu báo cáo, mà là chúng ta làm chủ được những công nghệ nào, tạo ra sản phẩm gì và hình thành được năng lực quốc gia nào.

Thứ tư, phải lấy doanh nghiệp và địa phương làm những chủ thể quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình quản trị và giá trị kinh tế - xã hội.

Vì vậy, doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa. Nhà nước cần tạo cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực có độ rủi ro cao nhưng có ý nghĩa chiến lược.

Đồng thời, các địa phương ven biển cần được đặt vào vị trí chủ động hơn trong việc xác định bài toán, tổ chức thử nghiệm và hình thành thị trường cho các sản phẩm, công nghệ biển.

Thứ năm, phải đổi mới cách tổ chức và triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển. Biển là một không gian liên thông; vì vậy, nghiên cứu biển cũng không thể tiếp tục bị chia cắt quá nhiều theo ngành, lĩnh vực hay địa giới hành chính.

Cần chuyển mạnh sang các bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng, gắn nghiên cứu cơ bản với điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đào tạo nhân lực, nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu quản trị quốc gia.

Tinh thần chung là ít nhiệm vụ phân tán hơn nhưng nhiệm vụ lớn hơn; ít chú trọng vào số lượng hơn nhưng coi trọng kết quả và tác động; lấy sản phẩm cuối cùng và năng lực được hình thành làm thước đo.

Xây dựng Việt Nam là quốc gia biển mạnh

Ông Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, việc triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW cần được đặt trong tổng thể các chủ trương lớn của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây chính là điểm cần được quán triệt ngay từ đầu: Phát triển quốc gia biển mạnh trong giai đoạn mới phải là phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và năng lực làm chủ công nghệ.

Một quốc gia biển mạnh không chỉ là quốc gia có nhiều cảng biển, nhiều tàu hay có quy mô kinh tế biển lớn. Quan trọng hơn, đó phải là một quốc gia hiểu được biển, dự báo được biển, quản trị được biển, khai thác bền vững tài nguyên biển và từng bước làm chủ các công nghệ biển hiện đại. 

Ông Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ảnh: Mai Hà

Ông Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Ảnh: Mai Hà

Để thực hiện thành công Nghị quyết 20 và Nghị quyết 57 trong lĩnh vực biển, ông Trần Tuấn Anh cho rằng chúng ta cần thực hiện đồng thời bốn chuyển đổi lớn: Một là, từ nghiên cứu đơn ngành sang nghiên cứu liên ngành, đa ngành. Hai là, từ các đề tài riêng lẻ sang các chương trình giải quyết bài toán lớn của quốc gia. Ba là, từ dữ liệu phân tán sang hạ tầng dữ liệu biển dùng chung và quản trị dựa trên dữ liệu. Bốn là, từ ứng dụng công nghệ sang từng bước làm chủ những công nghệ biển chiến lược.

Nếu thực hiện được những chuyển đổi đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ thực sự trở thành động lực để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Và quan trọng hơn, chúng ta sẽ hình thành được một năng lực khoa học biển quốc gia, trong đó các tổ chức nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và địa phương không hoạt động riêng rẽ mà cùng tham gia giải quyết những mục tiêu chiến lược chung.

Ông Nguyễn Thanh Hà - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết, Khánh Hòa tập trung mạng lưới R&D và nguồn nhân lực chất lượng cao, là trung tâm đào tạo và nghiên cứu biển lớn của vùng và cả nước. Địa phương tập trung hệ thống các Viện nghiên cứu và Trường đại học chuyên sâu hàng đầu như Viện Hải dương học, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, Đại học Nha Trang... Cùng với đó là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư giàu kinh nghiệm, nguồn nhân lực biển được đào tạo bài bản – đây chính là "tài sản trí tuệ" quý giá, là lực lượng nòng cốt để tiếp nhận, nghiên cứu và làm chủ các công nghệ đại dương tiên tiến.

Khánh Hòa đang trong động lực tăng trưởng bứt phá: Năm 2025, GRDP của tỉnh đạt 209,3 nghìn tỷ đồng; 6 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng GRDP đạt 9,03% (xếp thứ 14/34 tỉnh, thành). Riêng 7 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã đón 15,1 triệu lượt khách du lịch (trong đó có 5,5 triệu khách quốc tế), doanh thu đạt trên 52.000 tỷ đồng.

Khánh Hòa cam kết dành nguồn lực ưu tiên cao nhất, chuẩn bị sẵn sàng mặt bằng, thể chế, hạ tầng cũng như phối hợp chặt chẽ với các Viện, Trường trên địa bàn để đón nhận và triển khai hiệu quả các dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.

Tô Hội

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/dua-viet-nam-vuon-tam-quoc-gia-bien-manh-bang-tri-thuc-va-cong-nghe-16926082110001536.htm