Ung thư có tỷ lệ mắc, tử vong cao, cần ưu tiên sàng lọc và phòng ngừa
Theo bác sĩ, gánh nặng ung thư đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội trong nâng cao nhận thức, sàng lọc và phòng ngừa.
Gánh nặng ung thư ngày càng lớn
Sáng 21/8, Bệnh viện Trung ương Huế và Trường Đại học Y Dược Huế tổ chức khai mạc Hội nghị khoa học phòng chống ung thư thường niên Huế lần thứ 14 với sự tham dự của hơn 600 đại biểu, trong đó có hơn 30 chuyên gia, báo cáo viên, giảng viên quốc tế.
Phát biểu khai mạc hội nghị, GS.TS Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cho biết, trong bức tranh y tế toàn cầu, ung thư không chỉ là một thách thức y khoa đơn thuần mà đã trở thành gánh nặng kinh tế xã hội, đe dọa trực tiếp đến nguồn lực lao động và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia cũng như Việt Nam.

GS.TS Phạm Như Hiệp, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế phát biểu khai mạc. Ảnh: H.Dũng.
Theo Hội Ung thư Hoa Kỳ, ở quy mô toàn cầu, có 19 triệu người được chẩn đoán mắc ung thư và 10 triệu ca tử vong mỗi năm. Nếu không có sự can thiệp, con số này có thể tăng lên hơn 33 triệu ca và 18 triệu ca tử vong vào năm 2050.
Cứ 10 ca tử vong sớm (trong độ tuổi từ 30 đến 69) do các bệnh không lây nhiễm hiện nay có 4 ca do bệnh tim mạch và 3 ca do ung thư. Khi các quốc gia trải qua quá trình chuyển đổi về kinh tế xã hội, hai căn bệnh này trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại mỗi quốc gia; và tại hầu hết các nước, ung thư dần vượt qua bệnh tim mạch để trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu ở nhóm tuổi này.
Theo GS.TS Phạm Như Hiệp, dựa trên báo cáo mới nhất từ Tổ chức Ung thư Toàn cầu (GLOBOCAN), tình hình ung thư tại Việt Nam đang có những biến động đáng báo động về cả số lượng mắc mới lẫn tỷ lệ tử vong.
Cứ 100.000 người dân thì có khoảng 151 người mắc mới và 106 người tử vong do ung thư. Có thể nói, ung thư hiện là nguyên nhân gây tử vong sớm đứng thứ hai tại Việt Nam, chỉ sau bệnh tim mạch.
Việt Nam đứng thứ 101/185 quốc gia về tỷ lệ mắc mới nhưng lại nằm trong nhóm có tỉ lệ tử vong cao (đứng thứ 50/185). Dự báo đến năm 2050, số ca ung thư mới tại Việt Nam có thể tăng tới 60 - 70%, nếu không có chiến lược phòng ngừa hiệu quả.

Chuyên ngành Ung thư tại Bệnh viện Trung ương Huế được phát triển theo mô hình đa chuyên khoa, triển khai đồng bộ nhiều kỹ thuật hiện đại từ chẩn đoán, điều trị, ghép tế bào gốc đến chăm sóc giảm nhẹ. Ảnh: BVCC
"Với tỷ lệ mắc và tử vong cao, đặc biệt ngày càng nhiều bệnh nhân được chẩn đoán ở độ tuổi còn trẻ, ung thư đang trở thành một gánh nặng lớn cho hệ thống y tế Việt Nam, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội để nâng cao nhận thức, tăng cường các biện pháp giáo dục, ưu tiên sàng lọc và phòng ngừa, cũng như cải thiện việc chăm sóc giảm nhẹ", GS.TS Phạm Như Hiệp nói.
Tăng cường phòng bệnh
PGS.TS Bùi Diệu, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, cho biết trong những năm qua, công tác phòng chống ung thư tại Việt Nam có nhiều tiến bộ và được ghi nhận. Các phương pháp chẩn đoán ngày càng chính xác, nhiều kỹ thuật điều trị hiện đại được triển khai, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

PGS.TS Bùi Diệu, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam phát biểu tại hội nghị. Ảnh: H.Dũng.
Tuy nhiên, gánh nặng ung thư vẫn là một trong những thách thức rất lớn đối với ngành y tế và toàn xã hội, đặt ra những yêu cầu cấp bách về tăng cường phòng chống, phát hiện và điều trị bệnh ung thư.
Theo PGS.TS Bùi Diệu, hội nghị lần này là cơ hội để các nhà khoa học, cán bộ y tế trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu, thảo luận về chẩn đoán, điều trị và chia sẻ kinh nghiệm từ các chuyên gia. Hội Ung thư Việt Nam mong muốn những nội dung trao đổi tại hội nghị được chuyển hóa thành các giải pháp thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị bệnh nhân ung thư.
PGS.TS Bùi Diệu mong muốn các cơ sở chuyên khoa ung bướu trong cả nước đẩy mạnh công tác phòng bệnh, phát hiện sớm, coi đây là giải pháp căn cơ để giảm gánh nặng bệnh ung thư; tăng cường truyền thông thay đổi hành vi, kiểm soát các yếu tố nguy cơ, thúc đẩy tiêm chủng phù hợp và nâng cao nhận thức cộng đồng về khám, tầm soát ung thư.
Cùng với đó, đẩy mạnh công tác cập nhật và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chẩn đoán, điều trị. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, các chương trình tập huấn gắn kết với kinh nghiệm lâm sàng cũng cần được tăng cường trao đổi giữa các tuyến, các bệnh viện.
Đồng thời, xây dựng mạng lưới phòng chống ung thư chuyên môn, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách về chất lượng điều trị giữa các tuyến, các trung tâm y tế.
PGS.TS Bùi Diệu cho hay, công tác nghiên cứu khoa học, hợp tác chuyên môn và các kết quả nghiên cứu cần hướng tới những giải pháp thực tiễn, góp phần hình thành các hướng dẫn và quy trình điều trị phù hợp, lấy người bệnh làm trung tâm.

Bệnh viện Trung ương Huế tổ chức chương trình "Chúc mừng thành công 20 bệnh nhi Thalassemia ghép tủy đồng loại". Ảnh: Thượng Hiển.
Bệnh viện Trung ương Huế ghép tủy thành công cho 20 bệnh nhi Thalassemia
Ngày 19/8, nằm trong chuỗi hoạt động của Hội nghị khoa học phòng chống ung thư thường niên Huế lần thứ 14, Bệnh viện Trung ương Huế tổ chức Hội thảo quốc tế Thalassemia lần thứ II.
Trong khuôn khổ hội thảo, bệnh viện tổ chức chương trình "Chúc mừng thành công 20 bệnh nhi Thalassemia ghép tủy đồng loại", ghi dấu bước phát triển trong điều trị chuyên sâu các bệnh lý huyết học nhi khoa tại bệnh viện.
Chương trình ghép tủy cho trẻ mắc Thalassemia thể nặng được Bệnh viện Trung ương Huế triển khai từ tháng 9/2024, với sự hỗ trợ của GS. Lawrence Faulkner (Ý) và tổ chức DKMS (Đức). Trong vòng chưa đầy 2 năm, bệnh viện ghép tủy thành công cho 20 bệnh nhi mắc Thalassemia thể nặng. Sau ghép, các bệnh nhi đều có tình trạng sức khỏe ổn định, tiếp tục phát triển về thể chất và từng bước trở lại sinh hoạt, học tập phù hợp với lứa tuổi.
Đặc biệt, có 7 ca ghép bất đồng nhóm máu được thực hiện bằng phương pháp giải mẫn cảm, truyền một lượng nhỏ nhóm máu của người hiến trước ghép. Đây là phương pháp lần đầu được thực hiện tại Việt Nam.

