Đừng để nông sản chỉ có 'một cuộc đời'

Giá trị một mùa vụ cần được tính cả bằng việc làm, thu nhập và những lần khách quay lại mua hàng. Theo nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan, kết nối nông nghiệp với ẩm thực, văn hóa và du lịch phải giúp người dân có thêm sinh kế, hưởng lợi nhiều hơn từ những giá trị họ gìn giữ.

Giá trị còn lại sau mùa thu hoạch

Tại hội thảo “Nông sản Việt: Từ trang trại lên bàn ăn thế giới” diễn ra ngày 16/10 ở Gia Lai, ông Lê Minh Hoan - nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đề xuất mở rộng cách nhìn về giá trị nông sản. Trong tham luận “Từ một mùa vụ đến một miền thương nhớ”, ông nhấn mạnh vai trò của cộng đồng và cách tổ chức liên kết để sản phẩm địa phương có thêm thị trường.

Ông Lê Minh Hoan - nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chia sẻ thông tin tại hội thảo.

Ông Lê Minh Hoan - nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chia sẻ thông tin tại hội thảo.

Theo ông Hoan, sức hấp dẫn của một món ăn còn đến từ cảnh vật, ký ức, nếp sống và tình cảm của người dân nơi du khách từng ghé thăm. Cùng nguyên liệu, cùng cách chế biến, nhưng khi làm lại ở nơi khác, người thưởng thức có thể không tìm thấy cảm giác như lúc ban đầu.

Chính những trải nghiệm ấy khiến khách muốn quay lại, giới thiệu với bạn bè hoặc tìm mua sản vật sau chuyến đi. Vì vậy, bên cạnh sản lượng và giá bán, một mùa vụ cần được đánh giá qua số việc làm tạo ra, dịch vụ phát triển thêm và khả năng duy trì quan hệ với khách hàng.

Ông Hoan cho rằng nông sản có thể được khai thác ở nhiều công đoạn, với nhiều cách sử dụng. Quả chanh dây có thể bán tươi, chế biến thành đồ uống, món tráng miệng hoặc quà tặng. Khu vườn vừa cung cấp nguyên liệu, vừa có thể đón học sinh tìm hiểu thiên nhiên, du khách trải nghiệm thu hoạch và đầu bếp khám phá sản phẩm mới.

Người nông dân có thêm công việc hướng dẫn khách, giới thiệu kinh nghiệm canh tác và đời sống địa phương. Món ăn có thể khiến khách muốn tìm đến vùng trồng; chuyến thăm giúp họ hiểu nguồn gốc, cách sản xuất và tin tưởng hơn vào sản phẩm.

Tuy nhiên, chất lượng vẫn là điều kiện phải bảo đảm. “Không thể lấy câu chuyện thay cho chất lượng. Bao bì đẹp không bù được sự thiếu an toàn”, ông Hoan nhấn mạnh. Mã truy xuất nguồn gốc chỉ có ý nghĩa khi thông tin đáng tin cậy. Chất lượng ổn định và chữ tín mới giữ được khách hàng lâu dài.

Dẫn kinh nghiệm Hàn Quốc qua bộ phim “Nàng Dae Jang Geum”, ông đề cập khả năng giới thiệu ẩm thực thông qua điện ảnh. Món ăn, nguyên liệu và tri thức chế biến hiện diện trong câu chuyện, giúp khán giả tìm hiểu văn hóa, từ đó nảy sinh nhu cầu khám phá vùng đất.

Theo ông, địa phương có thể khai thác chất liệu từ người trẻ trở về lập nghiệp, gia đình gìn giữ món ăn truyền thống hay nghệ nhân truyền nghề. Nhưng sự quan tâm từ màn ảnh phải được đáp ứng bằng sản phẩm tốt, địa chỉ rõ ràng và dịch vụ chu đáo.

Với Nhật Bản, kinh nghiệm được ông lưu ý là tổ chức hợp tác giữa nông nghiệp, chế biến, phân phối và dịch vụ để giữ lại nhiều giá trị hơn tại địa phương. Nông dân cần được kết nối với các đối tác, thay vì tự đảm đương toàn bộ công việc.

Liên kết phải mang lại lợi ích cho người dân

Đối với Gia Lai, ông Hoan nhận định vùng cao nguyên, duyên hải, làng nghề và văn hóa cộng đồng tạo điều kiện phát triển những hành trình trải nghiệm mới. Du khách có thể theo dấu một món ăn từ vùng nguyên liệu, gặp người sản xuất, tìm hiểu chế biến rồi thưởng thức tại điểm đến.

Ông Lê Minh Hoan cùng các diễn giả tham gia phiên thảo luận.

Ông Lê Minh Hoan cùng các diễn giả tham gia phiên thảo luận.

Ông lưu ý việc kết nối cần dành thời gian để khách tiếp xúc với người dân, tìm hiểu đời sống, tránh ghép quá nhiều điểm tham quan vào lịch trình. Văn hóa cồng chiêng có không gian thiêng, văn hóa làng biển có tập quán riêng. Cộng đồng phải được quyết định điều gì có thể chia sẻ, cách giới thiệu và quyền lợi khi tham gia.

Từ kinh nghiệm Thái Lan, ông gợi ý Gia Lai nghiên cứu thử nghiệm sáng kiến “Mỗi gia đình một khả năng sáng tạo”. Trong một hộ làm nông, người lớn tuổi có kinh nghiệm chọn giống, chăm cây, nấu món truyền thống; người trẻ có thể chụp ảnh, dựng video, bán hàng trực tuyến hoặc thiết kế trải nghiệm.

Chính quyền xã, hợp tác xã, hội quán, trường học và doanh nghiệp có thể khảo sát năng lực, nhu cầu của từng hộ để tổ chức lớp học ngắn, nhóm cùng làm, thử sản phẩm và kết nối người mua. Nghệ nhân tham gia hướng dẫn, truyền nghề cần được ghi nhận và trả công xứng đáng.

Theo ông Hoan, đào tạo chưa đủ để bảo đảm thu nhập. Người dân còn cần vốn, thị trường, nơi thử nghiệm và cơ hội hợp tác. Mục tiêu của chương trình là giúp từng người phát huy kỹ năng để đóng góp vào sinh kế chung, không áp đặt mỗi gia đình phải mở cơ sở kinh doanh.

Ông đề xuất chọn một vùng nguyên liệu, một nhóm sản phẩm, một số hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để thử nghiệm trong 90 ngày. Tháng đầu xác định nhu cầu và đối tác; tháng tiếp theo phát triển món ăn, quà tặng, trải nghiệm; tháng cuối tổ chức thử, lấy phản hồi và điều chỉnh.

“Thị trường cần bước vào từ đầu mùa vụ, chứ không đợi đến cuối mùa mới đi tìm đầu ra”, ông Hoan nhấn mạnh.

Kết quả cần được đo bằng thu nhập người dân, hợp đồng lặp lại, tỷ lệ khách quay về, cơ hội cho người trẻ và khả năng gìn giữ tài nguyên, bản sắc. Theo ông, một mô hình tăng doanh thu nhưng để cộng đồng gánh phần lớn rủi ro khó có thể xem là thành công bền vững.

Viên Hữu

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/tin-tuc/dung-de-nong-san-chi-co-mot-cuoc-doi/20261017085042950