Dưới mây mù trên trạm Hải Vân Quan

VHXQ - Trong suốt dặm dài năm tháng, trạm dừng trên đỉnh Hải Vân đã đón tiếp không biết bao nhiêu nhân vật lịch sử. Nhưng có lẽ người được nhắc nhớ nhiều nhất là chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

Hải Vân Quan. Ảnh: NGUYỄN TRẦN ANH PHONG

Hải Vân Quan. Ảnh: NGUYỄN TRẦN ANH PHONG

Mây trên đỉnh đèo

Trong hầu hết ngọn đèo hiểm trở nhất của dải đất hình chữ S mà tôi từng có dịp dừng lại, Hải Vân là một điều gì đó rất lạ, rất riêng, không trộn lẫn được với bất kỳ ngọn đèo nào khác.

Có lẽ sự khác biệt đến từ việc đỉnh Hải Vân là một cửa ải, là một trạm dừng chân, và bởi những chuyện kể, những bí mật lẩn khuất đâu đó từ mây núi, từ sóng biển, từ cỏ cây hoa lá.

Giờ thì Hải Vân đã khoác lên mình một lớp áo mới, trở thành điểm du lịch thay cho chức năng vận chuyển của huyết mạch quốc lộ 1A.

Từ một điểm phòng thủ cho Kinh đô Huế dưới triều Nguyễn và là “biểu tượng” của địa giới hành chính, thậm chí điểm tranh chấp của Huế và Đà Nẵng trong nhiều năm, bây giờ, Hải Vân Quan sau khi được phục nguyên, tươi mới, nườm nượp khách tham quan mỗi ngày.

Rộng hơn là cả ngọn đèo Hải Vân dài hơn 20km, đang là biểu tượng của sự hợp tác, phát triển về mặt văn hóa và du lịch sau cái bắt tay đúng nghĩa của lãnh đạo ngành văn hóa Huế - Đà Nẵng vào năm 2023.

Nhưng không hiểu sao, tôi vẫn hay rưng rức với một Hải Vân xưa cũ. Lần nào dừng chân với tách cà phê nóng trên đỉnh đèo, nhìn mây cuộn như hơi thở của núi, tôi đều có cảm giác thời gian ở đây không trôi đi, mà co lại, như thể đang giấu mình vào một chiếc rương cổ, nơi tầng tầng lớp lớp những bí mật mang trầm tích lịch sử đã ngủ yên hàng thế kỷ.

Hải Vân quan về đêm. Ảnh: NGUYỄN TRẦN ANH PHONG

Hải Vân quan về đêm. Ảnh: NGUYỄN TRẦN ANH PHONG

Hoa ngải hóa rồng

Hơn 400 năm trước, năm Nhâm Dần 1602, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, ở lần đầu tiên dừng chân đã nhận ra “chỗ này là yết hầu của miền Thuận Quảng”.

Để rồi sau đó chúa Tiên vượt núi, xem xét tình thế, lập trấn dinh ở xã Cần Húc (thuộc Duy Xuyên ngày nay) và xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ, mở đầu cho công cuộc Nam tiến lẫy lừng đến tận mũi Cà Mau sau này.

Đầu thế kỷ 19, Phú Xuân - Huế trở thành thủ đô của cả nước, Hải Vân càng trở nên quan trọng, là cửa ngõ đi vào vùng kinh kỳ, cần phải tăng cường phòng ngự.

Vì thế, tháng Hai năm Bính Tuất (1826), vua Minh Mạng xuống chỉ cho xây một cửa quan ở đỉnh núi Hải Vân (Hải Vân Quan ngày nay), trên cơ sở một cửa ải đã được xây dựng trước đó từ thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh Tông tiến vào phương Nam đánh Chiêm đã dừng quân ở đây và tương truyền 6 chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” chính là lời của vị vua này.

Rồi hơn ba trăm năm trước, một trong những bí mật đầu tiên được ghi lại trong chiếc rương ấy là chuyện… hoa ngải hóa rồng.

Ấy là khi Thạch Liêm - hòa thượng Thích Đại Sán tận Trung Hoa, trong chuyến du phương qua Hải Vân năm 1694 - 1695, đã viết trong “Hải ngoại kỷ sự” rằng: “Khoảng tháng Hai, tháng Ba, hoa ngải nở, trôi ra biển, cá ăn hoa ấy thì hóa rồng”.

Chỉ một câu ngắn giữa hành trình vạn dặm, nhưng nó mở ra cả một cõi mơ hồ về Hải Vân.

Hoa ngải là loài gì? Mọc ở đâu? Hương sắc ra sao? Tại sao chỉ cần ăn một cánh hoa mà cá lại hóa rồng - một biểu tượng tối cao của quyền lực và thiêng liêng?

Không một cuốn sách hay bí tịch nào khác ngoài “Hải ngoại kỷ sự” nhắc đến loài hoa ấy trên đèo Hải Vân. Và cũng chưa ai từng tìm thấy dấu vết thực sự của nó.

Nhưng kể từ khi tình cờ đọc được những dòng mô tả ấy từ gần 30 năm trước, trong tôi luôn thường trực nỗi ám ảnh về loài hoa huyền thoại mỗi khi qua đèo.

Du khách chiêm ngưỡng không gian xung quanh Hải Vân Quan. Ảnh: NGUYỄN TRẦN ANH PHONG

Du khách chiêm ngưỡng không gian xung quanh Hải Vân Quan. Ảnh: NGUYỄN TRẦN ANH PHONG

“Bí mật” Hải Vân

Phải chăng hoa ngải chỉ là ẩn dụ của người xưa - về một lực lượng thiên nhiên mạnh mẽ đến mức khiến cả sinh vật bé nhỏ nhất cũng có thể hóa thân vượt lên số phận? Hay đó thực sự là một loài hoa đã biến mất cùng những biến thiên khí hậu, chiến tranh, khai phá của con người? Hay là đã có một sự nhầm lẫn nào đó về tên gọi để đánh đố hậu thế?

Mỗi lần nhìn những bụi hoa dại ken trên vách đá ẩm, tím đỏ vàng xanh lẫn lộn trong sương, tôi luôn có cảm giác mình đang lạc vào một khu vườn cổ tích bị bỏ quên - nơi mà loài hoa bí ẩn năm xưa đã chọn cách rút lui, để lại nhiều dấu hiệu cho con người tò mò nhưng không đủ để tìm thấy nó.

Hay từ những trang sách khác của John Crawfurd - sứ thần Anh đến Đàng Trong năm 1822 - kể rằng trên đỉnh đèo Hải Vân, ông đã nhìn thấy “những quán xá bán chè, gạo và nhiều món khác bày cho khách”.

Rồi Jules-Léon Dutreuil de Rhins - nhà địa lý Pháp - năm 1876 lại mô tả trên đỉnh Hải Vân có một thôn xóm với “sáu chục mái nhà tranh”, trẻ con chạy vẫy bụi mù, thiếu nữ núp sau bình phong dòm trộm đoàn khách lạ.

Ngày nay, không một dấu vết nào của ngôi làng còn sót lại. Dưới chân Hải Vân Quan trên đỉnh Hải Vân, từ lâu lắm rồi luôn trong cảnh không có nền nhà đúng nghĩa, không giếng cũ, không tàn tích cối giã gạo cũ. Chỉ còn gió hú qua cửa ải và những quán bán nước dựng tạm, lên xuống theo mùa du lịch.

Thời gian đã phủ lên đây một lớp sương quá dày khiến mọi thứ không còn dấu vết. Cũng có thể những mái nhà ấy đã trôi đi như hoa ngải xưa, rơi xuống biển ký ức mà hóa thành một dạng linh hồn khác, lơ lửng đâu đó giữa mây, núi và sóng biển.

Có lẽ vì vậy mà mỗi người đi qua, dừng chân ở trạm Hải Vân đều mang về một câu chuyện khác nhau. Người mê lịch sử nhìn thấy đồn lũy. Người thích văn hóa nghe thấy tiếng chày của thôn xóm xưa. Người yêu huyền thoại như tôi cứ mải miết tìm hoa ngải. Người thích khảo cổ đuổi theo dấu chân binh lính từ thời Trần đến thời Nguyễn. Còn người thích lãng mạn thì chỉ cần mây cuộn và biển xanh là đủ để nghĩ rằng mình vừa đi lạc vào một trang sách cũ.

Thời gian, dù đã tính bằng hàng trăm năm vẫn chưa thể kể hết bí mật của Hải Vân. Và có lẽ, thời gian cũng không định kể. Bởi giá trị của một di tích đôi khi không nằm ở những gì ta biết, mà ở khoảng trống dành cho những gì ta còn phải đi tìm.

HOÀNG VĂN MINH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/duoi-may-mu-tren-tram-hai-van-quan-3324144.html