Đường lên nguồn Lỗ Đông
VHXQ - Lỗ Đông là tên gọi nhánh sông phía Nam, nằm ở thượng nguồn sông Túy Loan, dưới chân Núi Chúa (núi Giáo Lao, núi Bà Nà) - ngọn chủ sơn của vùng đất phía Bắc Quảng Nam - Đà Nẵng xưa. Từ thời chúa Nguyễn, Lỗ Đông cũng là tên gọi của một trong 6 'nguồn' quan trọng.

Vị trí chiến lược của nguồn Lỗ Đông xưa.
Ngọn núi tôn kính
Danh xưng Lỗ Đông 魯東 xuất hiện sớm nhất trong sách Phủ biên tạp lục khi nhắc đến chức quan Lỗ Đông nguyên Cai quan (Cai quan nguồn Lỗ Đông) và cho biết: Nguồn Lỗ Đông hằng năm nộp thuế vàng 7 hốt, tiền thổ ngơi 198 quan.
Nguồn Lỗ Đông là nơi bắt nguồn một trong hai phụ lưu của sông Cẩm Lệ - sông Hàn. Nguồn này lại có hai phụ lưu nhỏ là sông Lỗ Đông (ở phía tây nam từ dốc Kiền chảy ra, tức sông Luông Đông) và sông Vịnh Phàm/ Buồm (ở phía tây bắc, từ Núi Chúa chảy ra, tức sông Bà Nà do người Pháp gọi và sông Túy Loan theo cách gọi của dân gian). Hai nhánh sông này hội lưu ở khu vực cầu Diêu Phong ngày nay.

Bản đồ của vùng Lỗ Đông - Bà Nà thời Pháp.
Về ý nghĩa tên gọi Lỗ Đông, sách Hòa Vang huyện chí viết: Phía đông của ngọn Giáo Lao còn có một nguồn nước gọi là Lỗ Đông. Ý nói là “nước Lỗ ở về phía đông của núi Thái Sơn”.
Người xưa cho núi Thái Sơn này là cao nhất. Người Nam Trung đi thuyền ngoài biển cả, trông về núi này để làm tiêu chí, vì khi ở Biển Đông, các núi đều không được nhìn rõ, mà độc chỉ có núi này, cho nên đây là ngọn núi rất tôn kính, là hòn núi Chúa của một phương trời.
Núi Giáo Lao là ngọn chủ sơn (Núi Chúa) nằm ở phía nam nguồn Câu Đê và ở phía tây nguồn Lỗ Đông, nguyên là sách (nơi ở) của người thiểu số. Tên gọi của ngọn núi là gọi theo hình thế núi nhọn và sắc như dao, xuất phát từ thổ ngữ của dân tộc thiểu số.
Nguồn Lỗ Đông
“Nguồn 源” có nghĩa gốc là nguồn sông, ở đầu nguồn. Đơn vị “nguồn” được triều đình đặt ra ở khu vực đầu nguồn sông để quản lý các sắc dân man, khai thác nguồn tài nguyên ở nguồn, thu thuế của các lái buôn ở vùng thượng nguồn của các con sông.

Nguồn Lỗ Đông trong sách Đồng Khánh địa dư chí.
Vùng đất Quảng Nam thời Nguyễn có 6 nguồn gồm Cu Đê, Lỗ Đông, Ô Gia/ Vu Gia, Thu Bồn, Chiên Đàn, Hữu Bang. Các nguồn đều phân bố trên khu vực đầu nguồn sông, ở miền núi phía tây xứ Quảng.
Theo mô tả đường đi ở dinh Quảng Nam của Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định, 1806) thì đường lên nguồn Lỗ Đông có ba ngả.
Đầu tiên, hướng từ Nam ra Bắc, quành sang hướng Tây. Đây là hướng từ dinh trấn Thanh Chiêm ở phía nam đi ngược ra theo đường thiên lý đến bờ nam sông Cẩm Lệ, qua chợ An Thái, sông Thạch Bồ đến đồn đạo Cảnh Hóa nguồn Lỗ Đông. Từ Lỗ Đông, đây là hướng đi vào Dinh Chiêm, Hội An gần nhất về đường bộ. Còn từ đồn đạo Cảnh Hóa theo nhánh đường mòn sẽ ngược lên đến Dốc Kiền về khu vực phía sau Núi Chúa - Sông Vàng, và từ đây có thể xuôi xuống nguồn Ô Gia.
Ngả thứ hai, hướng từ Đông sang Tây, xuất phát từ điếm Cẩm Lệ đi về phía tây qua rừng Cẩm Nê (còn gọi Truông Tranh), đến cầu khe Bàu Trai (tên Nôm của làng Thái Lai), rồi qua sông Bàu Cau, lên đến xã Hội Vực. Xã Hội Vực là nơi đặt cựu đồn sở, tân đồn sở và công trường của nguồn Lỗ Đông. Do đó, đây chính là hướng đường chính dẫn lên nguồn Lỗ Đông và xã Hội Vực là địa bàn trung tâm của nguồn Lỗ Đông đương thời.
Nhánh đường này còn bao hàm cả cung đường thủy, từ chợ Túy Loan theo đường sông Túy Loan ngược lên ngã ba sông, theo nhánh sông phía bắc thì dẫn đến Bến Đình ở ngay đình làng Hội Vực. Và từ phía nguồn Lỗ Đông xuôi theo sông Túy Loan - Cẩm Lệ có thể đến Cửa Hàn/ vịnh Đà Nẵng và quành vào hướng Nam, có thể theo sông Cái để vào Dinh Chiêm và theo sông Cổ Cò để vào vùng Cửa Đại, Hội An.
Ngả thứ ba, hướng từ Bắc xuống Nam. Ngả này xuất phát từ xã Hồng Phước - ngôi làng nằm ở một ngã ba đường bộ rất quan trọng: từ xã này đi vòng về phía Tây Nam 4.568 tầm (khoảng hơn 8km) thì lên đồn đạo Trà Á của nguồn Lỗ Đông và quành qua hướng Tây 6.090 tầm (khoảng hơn 11km) thì đến ngã ba chợ Phò Nam. Làng Phò Nam chính là địa bàn trung tâm của nguồn Cu Đê. Đương thời, đây có lẽ là cung đường bộ lớn, ngắn nhất nối thông hai nguồn Cu Đê và nguồn Lỗ Đông.

Nhánh sông phía Bắc của nguồn Lỗ Đông chảy qua làng Hội Vực.
Đồn đạo Trà Á có thể đã được đặt ở vùng An Lợi thuộc địa phận thôn An Sơn (thuộc xã Bà Nà nay). Tại đây, có một nhánh sông nhỏ, dân gian gọi là khe/suối Cao Sơn, là phụ lưu của nhánh Bắc sông Túy Loan (sông Bà Nà theo cách gọi của người Pháp), đổ nước vào nhánh Bắc của sông Túy Loan ngay tại làng Hội Vực.
Từ xưa, nơi này cũng có một con đường mòn, dài khoảng 2km, là độc đạo để đi từ khu vực phía Bắc và Đông Bắc về làng Hội Vực và lên vùng Đông Giang.
Theo đó, chúng ta có thể thấy rõ vị trí tọa lạc của nguồn Lỗ Đông xưa: bao quát một không gian khá rộng, trải dài từ chân núi Bà Nà về phía đông với làng Hội Vực là địa bàn trung tâm, xuôi xuống đến các làng Dương Lam/ Lâm, Thạch Nham, Túy Loan, Cẩm Lệ đổ ra Cửa Hàn. Nơi đây là vùng đầu nguồn sông, sâu trong rừng núi, địa thế kín đáo, khá hiểm trở. Hơn nữa, nó cũng là giao lộ liên kết giữa nguồn Cu Đê ở phía tây bắc và nguồn Vu Gia ở phía Nam. Về đường thủy, từ sông Túy Loan ngược dòng lên làng Hội Vực là tuyến đường thủy nhanh nhất để đến được nguồn Lỗ Đông xưa kia. Bến Đình là điểm trung chuyển quan trọng trên tuyến đường này.
Lỗ Đông là một nguồn khá lớn ở vùng sơn cước xứ Quảng xưa. Ở nguồn Lỗ Đông, nổi bật lên vai trò của làng Hội Vực - nơi hội tụ các ngõ nguồn sông suối phía đông Núi Chúa và các ngả đường bộ từ các hướng Đông, Bắc, Nam. Chính sự kết nối tự nhiên ấy đã khiến vùng Lỗ Đông - Hội Vực trở thành một vùng đất có vị trí địa - chiến lược quan trọng trong không gian của vùng Bắc Quảng Nam thời Nguyễn.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/duong-len-nguon-lo-dong-3324091.html












