Đường sắt cao tốc Bắc – Nam: Từ tham vọng hạ tầng đến động lực dài hạn cho tăng trưởng kinh tế
Ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cho rằng, thành công của dự án Đường sắt cao tốc Bắc – Nam không chỉ phụ thuộc vào quy mô đầu tư, mà còn ở cách hoạch định chiến lược phát triển đô thị, mô hình tài chính và cơ chế quản trị thực thi trong dài hạn.

Ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Ảnh: Arup.
Nền tảng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế bền vững
Trong quá trình Arup tham gia rà soát báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam, cùng kinh nghiệm tư vấn đầu tư nhiều dự án đường sắt cao tốc lớn trên thế giới, ông đánh giá như thế nào về dự án này? Đường sắt cao tốc Bắc – Nam có ý nghĩa như thế nào trong bức tranh phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới, thưa ông?
Ông TC Chew: Việt Nam đang đứng trước một trong những quyết định hạ tầng tham vọng và quan trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua.
Dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới. Dự án này sẽ giúp giải các bài toán quan trọng của quốc gia như kết nối các đô thị lớn, mở ra những hành lang kinh tế mới, hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp.
Quan trọng hơn, giá trị của dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam không chỉ nằm ở kết nối giao thông mà còn ở khả năng tạo động lực tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam.
Nếu được triển khai bài bản, dự án có thể tái định hình cách người dân di chuyển và trở thành một trong những nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn của đất nước.
Đường sắt cao tốc Bắc – Nam là một dự án có quy mô rất lớn, từ kinh nghiệm quốc tế trong quá trình tư vấn đầu tư nhiều dự án trên thế giới, ông nhận thấy đâu là vấn đề lớn nhất mà các quốc gia thường gặp phải?
Ông TC Chew: Có một thực tế rất rõ ràng rằng, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng.
Là tập đoàn tư vấn toàn cầu với chuyên môn kỹ thuật và tư vấn đa ngành, cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực kỹ thuật, thiết kế, quy hoạch, tư vấn và quản lý dự án, được thành lập năm 1946, Arup hiện có gần 18.000 chuyên gia làm việc tại 100 văn phòng trên toàn cầu, cung cấp dịch vụ cho hơn 136 quốc gia.
Trong 80 năm, Arup đã tham gia nhiều dự án, bao gồm đường sắt cao tốc, metro, sân bay, cảng biển và các chương trình phát triển đô thị tích hợp. Với cách tiếp cận đa ngành, Arup hợp tác cùng chính phủ, nhà đầu tư và doanh nghiệp để phát triển các giải pháp hạ tầng bền vững, nâng cao khả năng chống chịu và tạo ra giá trị lâu dài cho cộng đồng.
Dựa trên kinh nghiệm của Arup khi tham gia vào các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, chúng tôi nhận thấy, đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.
Điều đó đòi hỏi cách tiếp cận thực tế với bài toán vốn, kỷ luật trong tổ chức thực hiện và một tầm nhìn rõ ràng về tác động của đầu tư đường sắt đối với đô thị, cộng đồng và nền kinh tế.
Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.
Trong đó, yếu tố đầu tiên khi cân nhắc một công trình hạ tầng lớn là phải xác định rõ vấn đề mà công trình đó cần giải quyết.
Lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TP.HCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển trên phạm vi cả nước và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.
Điều này đặc biệt quan trọng với Việt Nam, bởi hạ tầng giao thông tác động trực tiếp tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp, sự dịch chuyển và phân bố dân cư, cũng như cách các cơ hội kinh tế được lan tỏa giữa các địa phương.
Thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc và việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.

Kinh nghiệm từ các dự án như California High-Speed Rail (Mỹ) cho thấy đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn. Ảnh: Arup.
Tối ưu hoá không gian phát triển và nguồn lực bằng các quy hoạch TOD
Không thể phủ nhận những ý nghĩa quan trọng của dự án này đối với phát triển kinh tế trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước, song với tổng vốn đầu tư dự kiến lên tới gần 70 tỷ USD, nhiều ý kiến đang tỏ ra lo ngại về nguồn lực để triển khai và thời gian hoàn vốn cho công trình.
Theo ông, Việt Nam nên tiếp cận bài toán tài chính này như thế nào để đảm bảo tính khả thi?
Ông TC Chew: Chi phí đầu tư ban đầu của dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam chắc chắn là rất lớn. Tuy nhiên, với những ý nghĩa quan trọng với tương lai phát triển của quốc gia, cách tiếp cận bài toán vốn cũng cần được đặt trong một khuôn khổ rộng lớn hơn.
Theo đó, những giá trị dài hạn của dự án không thể chỉ được đo bằng doanh thu bán vé. Với vai trò là một động lực kinh tế, dự án có thể nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình các không gian phát triển quanh nhà ga và mở rộng khả năng tiếp cận việc làm, dịch vụ.
Với những tiềm năng rất lớn này, việc phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán ngay từ đầu. Các nhà ga cần được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau.
Nếu làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính của dự án, vừa nâng cao chất lượng đô thị.
Trong bài toán quy hoạch các đô thị theo mô hình TOD, một trong những yếu tố quan trọng là đảm bảo tính liên thông trong kết nối. Trong khi đó, một thực tế đang diễn ra tại Việt Nam hiện nay là tình trạng ùn tắc giao thông ở những nút giao trong giờ cao điểm. Chính vì vậy, muốn thực hiện thành công mô hình đô thị TOD, Việt Nam cần lưu ý điều gì, thưa ông?
Ông TC Chew: Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi toàn bộ hành trình mà nó kết nối được tổ chức liền mạch. Vì vậy, yếu tố liên thông cần được đưa vào quy hoạch khu vực quanh ga ngay từ đầu.
Nếu hành khách xuống tàu rồi phải đối mặt với ùn tắc, kết nối giao thông công cộng hạn chế hoặc quãng di chuyển chặng cuối kéo dài, phần lớn lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm.
Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý tại các đô thị tăng trưởng nhanh, nơi hạ tầng giao thông thường chưa theo kịp tốc độ mở rộng đô thị.
Do đó, tại Việt Nam, quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận. Mục tiêu không chỉ là rút ngắn thời gian di chuyển giữa các đô thị lớn, mà là tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.
Làm được điều đó, các đô thị TOD sẽ phát huy được hiệu quả cao nhất trong việc thu hút cư dân về sinh sống, góp phần "giãn dân" tại các khu vực trung tâm thành phố lớn đang quá tải như hiện nay.

Phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD) được xem là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả tài chính của dự án, cải thiện chất lượng đô thị và khả năng kết nối. Ảnh: Arup.
Quản trị thực thi: Chìa khóa biến tham vọng thành hiện thực
Theo ông, Việt Nam cần có những giải pháp tổng thể như thế nào để thực hiện thành công dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam?
Ông TC Chew: Để hiện thực hóa một dự án lớn, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng về kỹ thuật. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các dự án đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai.
Cách thức phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai sẽ quyết định dự án có thể được thực hiện hiệu quả trong nhiều năm hay không. Trong bối cảnh Việt Nam đang đồng thời đẩy mạnh một làn sóng đầu tư hạ tầng trên diện rộng, năng lực thể chế càng trở nên then chốt.
Một chương trình đường sắt cao tốc thành công cần có mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.
Việc sớm huy động nhà thầu tham gia, kết hợp với kinh nghiệm quốc tế ngay từ giai đoạn đầu, cũng có thể giúp tăng độ chắc chắn về chi phí, tối ưu trình tự triển khai, phương pháp thực hiện và khuyến khích đổi mới trong thiết kế.
Một khía cạnh đáng chú ý khác là các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội để nâng cao năng lực nội tại của quốc gia. Đường sắt cao tốc có thể góp phần củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước.
Tuy nhiên, điều này chỉ có thể đạt được khi có kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức. Nếu được tiếp cận theo hướng này, dự án hạ tầng không chỉ tạo ra một tài sản có giá trị cho đất nước, mà còn góp phần xây dựng hệ sinh thái giao thông và hạ tầng vững mạnh hơn.
Mặt khác, không một dự án nào trong số đó có thể đi xa nếu thiếu niềm tin của công chúng. Các công trình quy mô lớn thường kéo dài nhiều năm và đòi hỏi sự ủng hộ nhất quán của xã hội.
Điều này đồng nghĩa với việc cần minh bạch về phương án triển khai các tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng.
Người dân cần hiểu không chỉ dự án sẽ xây dựng những gì, mà còn cách dự án đó sẽ cải thiện khả năng di chuyển, khả năng tiếp cận và cơ hội kinh tế như thế nào. Truyền thông rõ ràng và cơ chế quản trị đáng tin cậy là những điều kiện thiết yếu để tạo dựng niềm tin cần có cho quá trình triển khai.
Ông hình dung như thế nào về tương lai phát triển của Việt Nam sau khi dự án quan trọng này hoàn thành?
Ông TC Chew: Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để tạo ra bước ngoặt phát triển về hạ tầng. Một dự án đường sắt cao tốc được quy hoạch tốt có thể cải thiện năng lực kết nối, thúc đẩy tăng trưởng cân bằng hơn giữa các vùng kinh tế trọng điểm và củng cố năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.
Dự án cũng có thể trở thành một hình mẫu cho các quốc gia Đông Nam Á tiếp cận đầu tư đường sắt quy mô lớn.
Nếu hội tụ đầy đủ những điều kiện nền tảng cho phát triển, dự án chính là động lực quan trọng giúp tái định hình không gian phát triển quốc gia, mở ra những cơ hội tăng trưởng mới cho Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.
Xin cảm ơn ông!












