Duy trì đà tăng trưởng từ chế biến sâu nông sản
6 tháng đầu năm 2026, khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản của Lào Cai tăng trưởng 5,19%, vượt mục tiêu tăng trưởng từ 5% trở lên đề ra cho cả năm. Tuy nhiên, nhiều nông sản vẫn được tiêu thụ ở dạng thô hoặc mới qua sơ chế.
Những ngày chính vụ, các tuyến đường ở xã Hưng Khánh nhộn nhịp xe chở măng tre Bát độ từ vùng trồng về điểm thu mua. Măng vừa thu hoạch được tập kết, cân, phân loại rồi chuyển đến cơ sở sơ chế, chế biến ngay trong ngày để giữ độ tươi.
Đầu ra ổn định là động lực để gia đình chị Sùng Thị Súa ở thôn Khe Ron gắn bó với cây tre măng Bát độ.
“Măng tươi hiện bán được khoảng 6.000 đồng/kg. Có doanh nghiệp thu mua, măng từ 3 ha tre măng Bát độ của gia đình tiêu thụ thuận lợi nên thu nhập cũng khá hơn trước”, chị Súa chia sẻ.
Hưng Khánh hiện có 1.980 ha tre măng Bát độ, sản lượng măng năm nay dự kiến khoảng 15.000 tấn, trị giá ước 80 tỷ đồng. Trong suốt mùa thu hoạch, các hợp tác xã, doanh nghiệp tổ chức thu mua, đưa nguyên liệu đến cơ sở sơ chế, chế biến. Nhờ vậy, người dân giảm áp lực tìm đầu ra khi sản lượng măng tập trung trong thời gian ngắn.
Theo ông Trần Văn Tam - Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Khánh, địa phương chú trọng tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết giữa tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp. Có đầu mối thu mua, giá măng được duy trì tương đối ổn định, cây tre măng Bát độ trở thành nguồn thu đáng kể của nhiều hộ dân.
Tại Nhà máy chế biến măng tre Bát độ của Công ty TNHH Yamazaki Việt Nam ở Cụm Công nghiệp Hưng Khánh, măng nguyên liệu được kiểm tra, phân loại và chế biến thành sản phẩm măng muối phục vụ xuất khẩu. Nhà máy duy trì thu mua măng từ vùng sản xuất, tạo đầu ra ổn định cho người trồng tre măng Bát độ và đưa sản phẩm vào thị trường Nhật Bản.

Từ vùng trồng, qua điểm thu mua đến nhà máy chế biến, chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ măng tre Bát độ đã được hình thành khá rõ. Người dân có đầu ra, doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, còn sản phẩm được kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng thị trường tiêu thụ. Câu chuyện ở vùng tre măng Hưng Khánh cho thấy chế biến có thể nâng cao giá trị của nông sản sau thu hoạch. Song trên bình diện toàn tỉnh, khoảng cách từ “có chế biến” đến “chế biến tạo giá trị cao” vẫn còn khá lớn.
Những năm qua, Lào Cai đã hình thành hệ thống cơ sở chế biến ở các ngành hàng như chè, quế, gỗ rừng trồng, rau quả, lúa gạo và sản phẩm chăn nuôi. Toàn tỉnh hiện có trên 1.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến nông - lâm sản. Hoạt động chế biến giúp nhiều sản phẩm vượt khỏi hình thức tiêu thụ tươi, thô, kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng thị trường. Theo cơ quan chuyên môn, tại một số doanh nghiệp, hợp tác xã, giá trị sản phẩm sau chế biến cao hơn từ 1,5 - 2 lần so với tiêu thụ ngay sau thu hoạch.
Tuy nhiên, ở không ít ngành hàng, nông sản vẫn chủ yếu được bán dưới dạng nguyên liệu. Chè là ngành hàng có năng lực chế biến khá lớn với 73 cơ sở đang hoạt động, phần lớn đã đầu tư dây chuyền tương đối hiện đại, khép kín. Tuy nhiên, sản phẩm xuất khẩu sang Pakistan, Afghanistan, Đài Loan (Trung Quốc), Nga... vẫn chủ yếu là chè nguyên liệu, giá bình quân khoảng 2,5 USD/kg; khả năng thâm nhập các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản còn hạn chế. Thực tế này cho thấy dư địa của ngành chè không còn nhiều ở việc tăng số lượng cơ sở, mà ở khâu chế biến, đa dạng sản phẩm và tiếp cận những phân khúc có giá trị cao hơn.
Cây quế cũng đứng trước yêu cầu tương tự. Lào Cai có khoảng 146.800 ha quế, trong đó 24.241,5 ha được chứng nhận hữu cơ. 7 tháng năm 2026, sản lượng cành, lá và vỏ quế khai thác đạt 48.288 tấn, trong khi lượng tinh dầu chiết xuất mới đạt 238,2 tấn.
Toàn tỉnh có 72 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở tham gia thu mua, sơ chế, chế biến quế, phần lớn ở quy mô nhỏ và vừa. Sản phẩm chủ yếu là vỏ quế, tinh dầu; gỗ quế còn được bán dưới dạng gỗ tròn. Nguồn nguyên liệu lớn nhưng tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu còn thấp. Đến tháng 7/2026, trên địa bàn tỉnh còn khoảng 20 tấn tinh dầu quế chưa xuất bán được. Việc còn lượng tinh dầu chưa tiêu thụ cho thấy đầu ra của sản phẩm đang gặp khó khăn, trong khi thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng.
Rau quả cũng còn nhiều khoảng trống. Riêng dứa, sản lượng 7 tháng năm 2026 đạt 46.613 tấn nhưng lượng được Công ty Cổ phần Á Châu thu mua phục vụ nhà máy chế biến mới chiếm khoảng 30%. Phần còn lại vẫn chủ yếu đi qua thương lái, chợ đầu mối và thị trường tiêu thụ tươi.

Thực tế này cho thấy bài toán chế biến phải đi cùng thị trường. Doanh nghiệp không thể chỉ tính đến làm ra sản phẩm mà cần xác định sản phẩm sẽ bán cho ai, theo tiêu chuẩn nào và ở phân khúc nào.
Từ măng, chè, quế đến dứa có thể thấy, quy mô sản xuất đã khá lớn nhưng giá trị thu được chưa tương xứng. Một phần nguyên nhân ở các khâu sau thu hoạch như bảo quản, chế biến, phát triển sản phẩm và tìm thị trường.
Một dự án muốn hoạt động ổn định phải có vùng nguyên liệu phù hợp, nguyên liệu đạt yêu cầu và sản phẩm có thị trường. Trong khi đó, vùng sản xuất ở một số nơi còn phân tán, chất lượng nguyên liệu chưa đồng đều; liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật chặt chẽ. Không ít cơ sở còn hạn chế về vốn, công nghệ và năng lực phát triển sản phẩm. Hạ tầng bảo quản, vận chuyển sau thu hoạch cũng chưa theo kịp những vùng nguyên liệu có sản lượng lớn, thời gian thu hoạch tập trung.

Vì vậy, thu hút đầu tư chế biến cần gắn với từng vùng nguyên liệu cụ thể. Với măng, dứa và các loại rau quả cần ưu tiên điểm thu mua, kho bảo quản và cơ sở chế biến gần vùng sản xuất. Với chè, quế và gỗ rừng trồng, trọng tâm là đổi mới công nghệ, đa dạng sản phẩm, tận dụng phụ phẩm và nâng tỷ lệ hàng hóa chế biến sâu.

Liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất cũng phải được tính toán trước khi nhà máy vận hành. Doanh nghiệp xác định tiêu chuẩn nguyên liệu, hướng dẫn quy trình sản xuất và ký hợp đồng thu mua; hợp tác xã tập hợp sản lượng, kiểm soát chất lượng; người dân sản xuất theo yêu cầu của thị trường.
Lào Cai đã có nền tảng quan trọng với những vùng nguyên liệu lớn cùng hệ thống doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia chế biến nông, lâm sản. Sản xuất được tổ chức theo yêu cầu thị trường, nhà máy gắn chặt với vùng nguyên liệu và sản phẩm đi sâu hơn vào chuỗi giá trị sẽ là hướng đi để chế biến sâu trở thành động lực tăng trưởng thực chất cho nông nghiệp địa phương.
Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/duy-tri-da-tang-truong-tu-che-bien-sau-nong-san-post907748.html

