Gánh nặng bệnh không lây nhiễm nhìn từ chế độ ăn của người Việt
(PLVN) - Theo Bộ Y tế, bệnh không lây nhiễm hiện chiếm khoảng 80% tổng số ca tử vong tại Việt Nam và có dấu hiệu trẻ hóa nhanh. Một trong những nguyên nhân chính là chế độ ăn không lành mạnh của người Việt như tiêu thụ quá nhiều muối, thực phẩm siêu chế biến, thức ăn nhanh, đồ uống có đường. Song, đây cũng là yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được nếu có những giải pháp tổng thể, phù hợp.
Khi chế độ ăn không lành mạnh trở thành yếu tố nguy cơ
Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng ngày càng lớn từ các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đột quỵ, ung thư, đái tháo đường, tăng huyết áp và các bệnh hô hấp mạn tính. Nhóm bệnh này chiếm tới khoảng 80% tổng số ca tử vong và gần 74% tổng gánh nặng bệnh tật trên cả nước. Đặc biệt, bệnh không lây nhiễm đang có xu hướng trẻ hóa rõ rệt, trở thành mối đe dọa sức khỏe ngay cả với người trẻ và trung niên.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng trên là chế độ ăn không lành mạnh của người Việt, tác động đồng thời lên cả bốn yếu tố nguy cơ chuyển hóa. Kết quả Điều tra dinh dưỡng năm 2020 ở người trưởng thành Việt Nam cho thấy, mức tiêu thụ thịt bình quân tăng từ 84g/người/ngày năm 2010 lên 136,4g/ngày năm 2020; riêng khu vực thành phố đạt 155,3g/ngày. Trong khi đó, mức tiêu thụ rau và quả chín dù đã tăng nhưng mới đạt khoảng 66 - 77% nhu cầu khuyến nghị.
Bên cạnh khẩu phần ăn thiếu cân đối, tiêu thụ muối cao cũng là vấn đề cần lưu ý. Dù mức tiêu thụ muối của người Việt đã có xu hướng giảm trong những năm qua, song mức 8,1g/người/ngày vẫn cao gấp khoảng 1,6 lần khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Muối hiện diện rất nhiều trong khẩu phần ăn của người Việt từ nước mắm, nước tương, bột canh, hạt nêm, mì chính cho đến các loại thực phẩm chế biến sẵn, mì ăn liền, đồ ăn vặt… Thói quen chấm, chan nước mắm hoặc nước dùng cũng khiến lượng muối trong khẩu phần ăn tăng lên.
Một chế độ ăn không lành mạnh khác của người Việt là thường xuyên sử dụng đồ uống có đường như nước ngọt, nước tăng lực, trà sữa… Minh chứng là từ 18,5 lít/người/năm năm 2009, mức tiêu thụ bình quân đã tăng lên 66,5 lít/người/năm, tương đương tăng 350% trong 15 năm. Cùng với đó, việc sử dụng thức ăn nhanh và thực phẩm siêu chế biến ngày càng phổ biến hơn, đặc biệt ở nhóm trẻ em, học sinh, sinh viên.
Xây dựng môi trường thuận lợi để duy trì chế độ ăn lành mạnh
Có thể thấy, chế độ ăn không lành mạnh đã, đang và sẽ thay đổi khẩu phần ăn của người Việt theo hướng bất lợi. Điều này kéo theo những hệ luỵ nguy hiểm về sức khỏe. Song, đây cũng là yếu tố nguy cơ hàng đầu có thể thay đổi được nếu có những giải pháp tổng thể, phù hợp.
Thực tế, Việt Nam đã có nhiều chính sách liên quan đến dinh dưỡng và phòng, chống bệnh không lây nhiễm. Luật Phòng bệnh cùng với các quyết định hướng dẫn chuyên môn về dinh dưỡng hợp lý theo vòng đời; phòng, chống bệnh không lây nhiễm đã và đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu chính sách, mà ở năng lực thực thi, giám sát tuân thủ và đo lường tác động.
Trước khoảng trống trên, PGS.TS Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia đề xuất 3 nhóm giải pháp cần được Việt Nam triển khai đồng bộ cho giai đoạn 2026 - 2030, bao gồm: Chính sách tạo thay đổi ở cấp môi trường thực phẩm; Hệ thống y tế bảo đảm tiếp cận tới từng người dân; Hệ thống bằng chứng cho phép điều chỉnh chính sách dựa trên tác động thực tế.
Cụ thể, theo PGS.TS Trương Tuyết Mai, muốn tạo chuyển biến tích cực trong chế độ ăn của người dân cần phải thực hiện mạnh mẽ truyền thông thay đổi hành vi. Đồng thời, triển khai đồng bộ các biện pháp chính sách bắt buộc về thuế, ghi nhãn, quảng cáo và môi trường thực phẩm học đường, đi kèm hệ thống giám sát đủ mạnh để đo lường tác động. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cần nghiên cứu cung cấp bằng chứng và bảo đảm kỹ thuật khi xây dựng chính sách.
Ở góc độ quốc tế, Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng Đại diện WHO tại Việt Nam nhận định, trong những năm gần đây, Việt Nam đã đưa ra một số biện pháp quan trọng nhằm thúc đẩy chế độ ăn lành mạnh. WHO cũng đã đồng hành, hỗ trợ Việt Nam trong những nỗ lực này. Một trong số đó là việc WHO đã phối hợp với Bộ Y tế cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình xây dựng Thông tư số 30/2026/TT-BYT, quy định bắt buộc về việc công bố thành phần dinh dưỡng và giá trị dinh dưỡng trên nhãn thực phẩm.
Hiện, WHO cũng đang phối hợp xây dựng Mô hình Phân loại Dinh dưỡng (Nutrition Profiling Model) phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Mô hình này sẽ thiết lập các ngưỡng rõ ràng đối với những chất dinh dưỡng cần quan tâm, như chất béo, đường và muối, trong các thực phẩm đóng gói sẵn. “Đây sẽ là cơ sở để thúc đẩy triển khai ghi nhãn dinh dưỡng ở mặt trước bao bì cũng như các biện pháp can thiệp khác nhằm cải thiện dinh dưỡng cho người dân”, Tiến sĩ Angela Pratt nhấn mạnh.
Trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng ngày càng tăng của các bệnh không lây nhiễm, thay đổi chế độ ăn không thể chỉ dừng ở những lời khuyên như “ăn nhạt hơn”, “bớt đường” hay “ăn nhiều rau xanh”. Quan trọng hơn, cần tạo ra một môi trường thuận lợi để người dân có thể lựa chọn và duy trì chế độ ăn lành mạnh cho bản thân và gia đình.


