GDP ngày càng lớn và câu hỏi về khả năng tích lũy, lớn lên của doanh nghiệp Việt
Đằng sau quy mô GDP ngày càng lớn là câu hỏi về khả năng tích lũy và lớn lên của doanh nghiệp Việt: Họ đang giữ được bao nhiêu giá trị, làm chủ được những công đoạn nào và tạo được những việc làm có thu nhập ra sao?
Thành tựu đáng tự hào
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tính tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước; GDP chín tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn lại 9 tháng đầu năm 2026, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào và đánh giá rất cao sự điều hành linh hoạt, quyết liệt của Chính phủ, cùng sự nỗ lực bền bỉ của toàn nền kinh tế.
Mặc dù bối cảnh địa chính trị toàn cầu tiếp tục phân mảnh, chi phí chuỗi cung ứng biến động, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì được đà tăng trưởng ấn tượng, kiểm soát tốt lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.
Các động lực tăng trưởng truyền thống như xuất khẩu, đầu tư công và tiêu dùng nội địa tiếp tục làm bệ đỡ vững chắc, trong khi các động lực mới về chuyển đổi số, kinh tế xanh và thu hút dòng vốn đầu tư thế hệ mới đang từng bước khẳng định hiệu quả.
Bên cạnh đó, các báo cáo của những định chế quốc tế về kinh tế Việt Nam cũng cho thấy các thành tựu phát triển rất rõ ràng. Quy mô nền kinh tế đã vượt 500 tỷ USD, GDP bình quân đầu người hơn 5.000 USD; từ tháng 7/2026, Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đưa vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Những con số xuất khẩu và công nghiệp cho thấy Việt Nam đã trở thành một địa điểm sản xuất lớn. Ảnh: Thạch Thảo
Các dự báo tăng trưởng cũng tiếp tục được điều chỉnh lên. IMF dự báo kinh tế Việt Nam năm nay tăng 7,5%, ADB dự báo 7,8%, còn Ngân hàng Thế giới là 6,8%. Giữa lúc kinh tế thế giới tăng chậm, những mức dự báo ấy cho thấy Việt Nam vẫn là một điểm sáng.
Chín tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đã đạt hơn 888 tỷ USD. Một nền kinh tế với hơn 100 triệu dân đang tiến khá nhanh trên bản đồ kinh tế thế giới.
Nhưng khi tách riêng phần đóng góp của doanh nghiệp trong nước, nhất là trong xuất khẩu và công nghiệp chế biến, chế tạo, chúng ta gặp một bức tranh khác. Sức vóc của doanh nghiệp Việt còn khá khiêm tốn so với những con số chung thường được nhắc đến.
Nền kinh tế dựa vào xuất khẩu và FDI
Cứ năm đồng xuất khẩu, doanh nghiệp trong nước đóng góp chưa được một đồng.
Trong 434,30 tỷ USD xuất khẩu của chín tháng đầu năm 2026, khu vực FDI đóng góp 349,55 tỷ USD, chiếm 80,5%. Khu vực trong nước, tính cả dầu thô, đạt 84,75 tỷ USD, tương đương 19,5%, theo GSO. Cứ năm đồng xuất khẩu, doanh nghiệp trong nước đóng góp chưa được một đồng. Đọc đến đây, người ta có thể hình dung rõ hơn phần nào đang làm nên vị thế xuất khẩu của Việt Nam.
Khoảng cách còn tiếp tục giãn ra: Xuất khẩu của FDI tăng 29,5%, còn khu vực trong nước tăng 7,2% so với cùng kỳ.
Ba nhóm hàng điện tử, máy móc thiết bị và điện thoại tăng — mà tuyệt đại đa số thuộc về khu vực FDI — thêm 66,33 tỷ USD, đóng góp tới 78% mức tăng xuất khẩu cả nước.
Trong khi đó, bảy nhóm hàng gắn với thế mạnh sản xuất và nguyên liệu trong nước — gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả, hạt điều, cà phê, gạo và cao su — đạt tổng kim ngạch 45,35 tỷ USD. Những mặt hàng quen thuộc, vốn là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, chỉ chiếm miếng bánh “mỏng tang” so với chiếc bánh xuất khẩu đã phổng phao, to lớn.
Sự chênh lệch còn rõ trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Theo Báo cáo về chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam của OECD năm 2025, doanh nghiệp nước ngoài chiếm chưa đến 3% số doanh nghiệp chính thức nhưng tạo ra 78% doanh thu của ngành này.
Mức lương bình quân tại doanh nghiệp nước ngoài cao hơn khu vực trong nước khoảng 21%, theo OECD. Việt Nam có lý do để tiếp tục thu hút những nhà đầu tư tốt. Vấn đề là sau những nhà máy lớn ấy, có bao nhiêu doanh nghiệp Việt đã lớn lên cùng họ?
Khảo sát của VCCI cho thấy chỉ 5,6% doanh nghiệp tư nhân có liên kết cả đầu vào lẫn đầu ra với khu vực FDI; tỷ lệ tham gia mạng lưới xuất khẩu là 3,7%. Thành công thu hút đầu tư nước ngoài đã hiện rõ trên những con số xuất khẩu. Dẫu vậy, số doanh nghiệp Việt nối được vào các chuỗi sản xuất ấy vẫn còn ít.
Kinh tế hộ gia đình còn nhỏ lẻ
Khu vực kinh tế ngoài nhà nước ngày nay chiếm tỷ trọng 51% GDP của đất nước, theo các Niên giám thống kê từ năm 2021-2025. Nếu so với trước Đổi mới, khi nền kinh tế nói chung chỉ là đơn thành phần, đây là thành quả phát triển vô cùng ngoạn mục.
Tuy nhiên, trong các Niên giám thống kê hàng năm đến năm 2020, khu vực kinh tế ngoài nhà nước bao gồm kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân (tức các doanh nghiệp có đăng ký chính thức theo Luật Doanh nghiệp). Theo đó, kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng chỉ 9-10% GDP, kinh tế cá thể khoảng 29-30% GDP và kinh tế tập thể chỉ vỏn vẹn khoảng 4% GDP.
Có nghĩa là, các doanh nghiệp có đăng ký chính thức, đầu tư, kinh doanh bài bản chỉ chiếm tỷ trọng 1/10 GDP của đất nước, trong khi khu vực kinh tế cá thể là các hộ gia đình chiếm tới 3/10 miếng bánh GDP.
Từ thực tế đó có thể thấy, khu vực kinh tế ngoài nhà nước, theo Niên giám thống kê 2021-2025, bao gồm hơn một triệu doanh nghiệp và hơn 6,1 triệu hộ kinh doanh, đóng góp 51% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách và sử dụng khoảng 82% lao động, theo GSO. Hơn 6,1 triệu hộ kinh doanh, từ cửa hàng, quán ăn đến những cơ sở sản xuất nhỏ lẻ… vẫn đang là lực lượng chủ công trong nền kinh tế. Họ còn manh mún, nhỏ li ti, thiếu vốn và công nghệ để có thể kết nối hay cạnh tranh với các tập đoàn quốc tế ở sân chơi này.
Theo khảo sát của VCCI công bố giữa năm nay, có đến gần 82% hộ kinh doanh cho biết doanh thu giảm. Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam 2025 của VCCI cho biết, 60,6% doanh nghiệp được khảo sát gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng, tương đương thời kỳ Covid-19. Gần hai phần ba hoặc thua lỗ, hoặc chỉ “lãi chút ít”.
Theo GSO, bình quân tám tháng đầu năm nay, doanh thu doanh nghiệp tăng 21%, còn chi phí mua vào tăng 27%. Chi phí cao hơn doanh thu cho thấy lợi nhuận xẹp xuống, thậm chí âm. Lãi suất cho vay vẫn cao, doanh nghiệp còn khó tiếp cận vốn vẫn là các khó khăn truyền thống. Trong chín tháng, gần 224.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, cao hơn khoảng 172.000 doanh nghiệp rút lui.
Nhìn vào cơ cấu ấy mới thấy nền kinh tế còn rất manh mún, nhỏ li ti. Theo số liệu được công bố đến năm 2020, kinh tế hộ gia đình chiếm gần 30% GDP, gấp khoảng ba lần phần đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân có đăng ký chính thức. Hơn 6,1 triệu hộ kinh doanh vẫn là những cửa hàng, quán ăn, xưởng sản xuất nhỏ, nơi chủ hộ vừa bỏ vốn, vừa trực tiếp làm việc, vừa lo tìm khách hàng. Với nhiều hộ, chuyện kinh doanh trước hết vẫn là lo sinh kế cho gia đình. Khi vốn ít, lợi nhuận mỏng, việc lớn lên thành một doanh nghiệp có tổ chức và đủ sức cạnh tranh còn là một chặng đường dài.
Bởi vậy, tỷ trọng 51% GDP của khu vực kinh tế ngoài nhà nước cần được nhìn cùng với cấu trúc bên trong. Tỷ trọng lớn ấy chưa đồng nghĩa với việc Việt Nam đã có một lực lượng doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh. Nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào hàng triệu cơ sở nhỏ, trong khi chính các doanh nghiệp cũng đang chật vật tìm khách hàng và tích lũy vốn để lớn lên.
Thu nhập của người việt mới bằng 1/3 trung bình của thế giới
Khu vực doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ lẻ, manh mún không thể tạo việc làm “hoành tráng” được. Phần đông người có việc làm vẫn thuộc khu vực phi chính thức. Nhiều người mưu sinh bằng công việc thiếu hợp đồng, bảo hiểm xã hội và nguồn thu ổn định. Vài ngày không có cuốc xe, không được thuê làm hoặc một mùa vụ thất bát có thể làm đảo lộn chi tiêu của gia đình.
Quý III/2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động chỉ ở mức 2,22%, nhưng tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 60,6%, theo báo cáo của Cục Thống kê.
Người trẻ gặp khó khăn lớn hơn mức thất nghiệp chung gợi ra. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 24 tuổi trong quý III là 9,07%. Tính chung chín tháng, tỷ lệ này gần 8,9%, cao nhất trong giai đoạn 2020–2026.
Thu nhập bình quân của người lao động chín tháng đạt hơn 9,1 triệu đồng mỗi tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Chỉ số CPI trong cùng thời gian tăng 4,52% cho thấy, mức cải thiện sức mua thấp hơn mức tăng thu nhập. Hơn nữa, khoản thu ấy còn phải trang trải cho những thành viên chưa có việc làm hoặc không còn làm việc trong gia đình.
Những số liệu trên cho thấy, đa số người lao động vẫn làm việc ở khu vực phi chính thức với mức lương còn khá khiêm tốn trong bảo đảm nhu cầu sống cơ bản.
Nhìn vào GDP bình quân đầu người, có thể thấy nền tảng kinh tế của đa số người Việt Nam vẫn còn thấp, nhất là ở nhiều tỉnh miền núi. Theo Niên giám Thống kê 2025, bình quân cả nước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương ứng với 35% GDP bình quân toàn cầu, theo World Bank. Trong số đó, chỉ có 11 địa phương vượt mức này, còn 52 địa phương nằm dưới mức bình quân.
GRDP bình quân đầu người năm 2025 của Bắc Kạn đạt 62,18 triệu đồng, tương đương khoảng 17% mức bình quân thế giới; Điện Biên đạt 53,39 triệu đồng, khoảng 15%; Cao Bằng đạt 49,59 triệu đồng, gần 14%; còn Hà Giang đạt 42,87 triệu đồng, chỉ khoảng 12%. Những con số ấy cho thấy nhiều địa phương vẫn ở rất xa mặt bằng phát triển chung toàn cầu. Ngay Bà Rịa – Vũng Tàu, đứng đầu biểu đồ với 346,89 triệu đồng/người, cao gấp 8,1 lần Hà Giang, cũng chỉ đạt khoảng 96% mức bình quân thế giới.
Dù những con số này chưa phản ánh thu nhập thực nhận của người dân, chúng cho thấy nền tảng kinh tế ở nhiều nơi vẫn rất thấp. Từ mức tăng trưởng cao đến một cuộc sống khá giả cho phần đông người Việt còn là một quãng đường dài. Khoảng cách ấy nhắc chúng ta rằng thành quả phát triển còn phân bố rất không đều, và mức bình quân quốc gia có thể che khuất sự nghèo khó ở nhiều địa phương.
“Có thực mới vực được đạo”
Quy mô GDP năm 2025 đạt khoảng 514,7 tỷ USD, tương đương 0,435% kinh tế toàn cầu. Nói một cách dễ hình dung, trong mỗi 200 USD của cải được tạo ra trên thế giới, phần của Việt Nam chưa tới 1 USD.
Tổng thu nhập quốc gia, hay GNI, giúp nhìn thêm thực lực của nền kinh tế. Theo tính toán của TS Bùi Trinh, năm 2000, GNI thấp hơn GDP khoảng 1,4%; những năm gần đây, GNI tương đương khoảng 95% GDP. Ông ước tính chi trả sở hữu ra nước ngoài giai đoạn 2022–2025 khoảng 18–20 tỷ USD mỗi năm.
Những con số xuất khẩu và công nghiệp cho thấy Việt Nam đã trở thành một địa điểm sản xuất lớn. Nhưng lực lượng doanh nghiệp Việt đủ sức tham gia sâu vào hoạt động ấy vẫn còn mỏng. Trong nước, hàng triệu hộ kinh doanh tiếp tục gánh phần đáng kể của nền kinh tế, chủ yếu bằng những cơ sở nhỏ và nguồn vốn ít ỏi. Bởi vậy, đằng sau quy mô GDP ngày càng lớn là câu hỏi về khả năng tích lũy và lớn lên của doanh nghiệp Việt: Họ đang giữ được bao nhiêu giá trị, làm chủ được những công đoạn nào và tạo được những việc làm có thu nhập ra sao?
Những lập luận trên cho thấy, điểm xuất phát của Việt Nam còn thấp và dư địa phải đi còn rất xa. Người xưa có câu: “Có thực mới vực được đạo”. Muốn có thêm tiền cho bệnh viện, trường học, khoa học, quốc phòng và một vị thế quốc gia vững vàng hơn, Việt Nam phải làm ra nhiều của cải hơn và quan trọng là giữ được nhiều giá trị hơn cho doanh nghiệp và người dân trong nước.


