Giá lúa gạo hôm nay 18.9.2026: Lúa tươi giảm tới 300 đồng/kg
Giá lúa gạo ngày 18.9.2026 dự báo tiếp tục phân hóa, lúa tươi giảm 200 - 300 đồng/kg trong khi gạo nguyên liệu vẫn giữ mặt bằng tương đối ổn định.
Thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long đang xuất hiện sự phân hóa khá rõ. Lúa hè thu cuối vụ không còn dồi dào nhưng sức mua tại ruộng chậm, kéo giá nhiều giống lúa tươi đi xuống.
Ngược lại, gạo nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu vẫn giữ được mặt bằng giá, cho thấy áp lực giảm chưa lan rộng toàn thị trường.

Hình minh họa
Lúa tươi giảm 200 - 300 đồng/kg, sức mua tại ruộng còn chậm
Dự báo ngày 18.9.2026, giá nhiều giống lúa tươi tiếp tục ở vùng thấp sau nhịp điều chỉnh khoảng 200 đồng/kg. Riêng OM 34 có mức giảm mạnh hơn, khoảng 300 đồng/kg.

Đài Thơm 8 và OM 18 tiếp tục nằm trong nhóm có giá tốt nhất, với mức cao nhất khoảng 6.200 đồng/kg. OM 5451 và IR 50404 cùng lùi xuống vùng 5.800 - 6.000 đồng/kg, còn OM 34 có thể chỉ quanh 5.600 - 5.700 đồng/kg.
Điểm đáng chú ý là nguồn cung lúa cuối vụ đã thu hẹp nhưng chưa tạo được lực đẩy cho giá. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở sức mua chậm. Thương lái chưa tăng lượng gom hàng, trong khi các nhà máy cũng khá thận trọng với kế hoạch bổ sung nguyên liệu.
Sau nhịp giảm mạnh, khả năng giá tiếp tục lao dốc ngay trong ngày 18.9 không cao nếu người trồng lúa không tăng lượng bán. Thị trường có thể chuyển sang trạng thái giằng co quanh vùng giá mới.
Gạo nguyên liệu giữ giá, IR 504 nhích cao hơn vùng trước
Trái với lúa tươi, nhóm gạo nguyên liệu có trạng thái ổn định hơn.

OM 5451 và Đài Thơm 8 tiếp tục giữ mức cao nhất trong nhóm, đạt tối đa khoảng 9.400 đồng/kg.
CL 555 dao động 8.850 - 8.900 đồng/kg, trong khi IR 504 ở vùng 8.800 - 8.900 đồng/kg. So với giai đoạn IR 504 chỉ quanh 8.650 - 8.750 đồng/kg, mặt bằng hiện tại cho thấy loại gạo này đang có lực đỡ tốt hơn.
Đây là tín hiệu đáng chú ý bởi giá lúa tươi giảm nhưng gạo nguyên liệu không giảm theo. Điều này có thể phản ánh nhu cầu của các nhà máy vẫn được duy trì, trong khi nguồn nguyên liệu thành phẩm không quá dư thừa.
Nếu doanh nghiệp tăng mua để chuẩn bị các đơn hàng cuối năm, gạo nguyên liệu có khả năng giữ giá tốt hơn lúa tươi và trở thành điểm tựa giúp thị trường sớm cân bằng.
Ở nhóm phụ phẩm, tấm thơm 3 - 4 được dự báo quanh 8.500 - 8.600 đồng/kg, cao hơn khoảng 200 đồng/kg. Cám khô giữ khoảng 7.350 - 7.700 đồng/kg.
Nếp tiếp tục ít biến động, với nếp 3 tháng khô khoảng 9.600 - 9.700 đồng/kg và nếp IR 4625 tươi 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Gạo xuất khẩu giảm nhẹ, thị trường chờ sức mua cuối năm
Giá gạo bán lẻ chưa có dấu hiệu giảm theo thị trường lúa.

Trên thị trường xuất khẩu, diễn biến có phần kém tích cực hơn khi một số chủng loại của Việt Nam giảm giá.

Gạo thơm 5% tấm Việt Nam lùi về 440 - 445 USD/tấn, trong khi Jasmine giảm nhẹ xuống 532 - 536 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm giữ khoảng 367 - 371 USD/tấn.
Việc giá xuất khẩu giảm khiến dư địa nâng giá mua nguyên liệu của doanh nghiệp bị hạn chế. Đây cũng là một trong những lý do khiến lúa tại ruộng chưa được hỗ trợ dù nguồn cung cuối vụ đã giảm.
Ở chiều ngược lại, thị trường vẫn có điểm tựa từ nhu cầu nhập khẩu của các đối tác truyền thống. Nếu doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng giao trong những tháng cuối năm, hoạt động thu mua nguyên liệu có thể tăng trở lại.
Dự báo trong ngày 18.9.2026, thị trường lúa gạo tiếp tục phân hóa. Lúa tươi chịu sức ép sau nhịp giảm mạnh, nhưng khả năng giảm sâu thêm có thể hạn chế bởi nguồn cung cuối vụ đang thu hẹp.
Gạo nguyên liệu được kỳ vọng giữ giá tốt hơn, đặc biệt là OM 5451, Đài Thơm 8, CL 555 và IR 504. Đây có thể là nhóm phát tín hiệu ổn định trước nếu sức mua doanh nghiệp cải thiện.
Nhìn chung, xu hướng ngắn hạn vẫn nghiêng về đi ngang sau điều chỉnh. Thị trường cần thêm tín hiệu từ lượng mua thực tế của nhà máy và các đơn hàng xuất khẩu mới trước khi có thể hình thành một nhịp phục hồi rõ rệt.

