Giá lúa gạo ngày 3/3: Giá xuất khẩu đi ngang, giao dịch nội địa thận trọng
Giá lúa gạo ngày 3/3 xuất khẩu đi ngang, thị trường lúa nội địa ổn định đầu tuần với giao dịch cầm chừng tại các địa phương dù nguồn cung lúa gạo thơm vẫn hạn chế.
Bước vào ngày giao dịch đầu tuần, thị trường lúa gạo trong nước và xuất khẩu ghi nhận trạng thái bình ổn về giá. Dù nhịp độ mua bán tại các địa phương có phần chậm lại, mặt bằng giá vẫn được duy trì ổn định nhờ sự cân bằng giữa cung và cầu.
Giá gạo xuất khẩu duy trì thế cân bằng
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu tiếp tục xu hướng đi ngang, chưa ghi nhận biến động mới. Cụ thể:
Gạo 5% tấm: Dao động trong khoảng 400 – 415 USD/tấn.
Gạo 100% tấm: Giữ mức 316 – 320 USD/tấn.
Gạo Jasmine: Được chào bán ổn định từ 431 – 435 USD/tấn.
Việc giá gạo giữ mức ổn định cho thấy các doanh nghiệp xuất khẩu đang trong giai đoạn chờ đợi những tín hiệu mới từ thị trường quốc tế, đồng thời phản ánh nguồn cung hiện tại đủ đáp ứng các đơn hàng ngắn hạn.
Thị trường lúa tươi: Giao dịch chậm, giá vững
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, khảo sát từ Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang cho thấy giá lúa tươi không có điều chỉnh so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, tâm lý thận trọng đang bao trùm thị trường khi lượng giao dịch phát sinh khá hạn chế.

Ghi nhận tại Cần Thơ, thương lái hỏi mua ít, chủ yếu tập trung vào các diện tích sắp thu hoạch. Tại Đồng Tháp, Vĩnh Long và Tây Ninh, thanh khoản chỉ ở mức khá đối với những lô lúa cận ngày cắt, trong khi các diện tích lúa xa ngày thu hoạch vẫn gặp khó khăn trong việc chốt hợp đồng.
Giá gạo nguyên liệu và gạo chợ lẻ đi ngang
Thị trường gạo nguyên liệu phục vụ vẫn khẩu vẫn giữ được sự ổn định. Tại các kho khu vực Sa Đéc và An Cư (Đồng Tháp), nguồn cung gạo thơm vẫn còn hạn chế nhưng giá không tăng. Các kho ưu tiên thu mua những lô gạo có phẩm chất tốt, hạt đẹp.
Gạo nguyên liệu: Đài Thơm 8 giữ mức 9.250 – 9.350 đồng/kg; OM 18 đạt 8.900 – 9.100 đồng/kg; IR 504 duy trì 8.000 – 8.100 đồng/kg.
Gạo thành phẩm: Loại IR 504 hiện dao động quanh ngưỡng 9.500 – 9.700 đồng/kg.
Phụ phẩm: Tấm IR 504 ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; cám khô đạt từ 10.500 – 11.500 đồng/kg.
Tại các hệ thống chợ lẻ, giá bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng không có sự xáo trộn. Cao nhất vẫn là gạo Nàng Nhen (28.000 đồng/kg), tiếp đến là các dòng gạo thơm như Hương Lài (22.000 đồng/kg) và Nhật (22.000 đồng/kg). Các loại gạo trắng thông dụng và gạo thường vẫn giữ mức bình dân từ 12.000 – 16.000 đồng/kg.











